Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành nông nghiệp giữ vai trò nền tảng trong cơ cấu kinh tế Việt Nam với nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, cao su, chè, hạt điều, hạt tiêu và cà phê. Trong đó, cà phê là nông sản xuất khẩu đứng thứ hai sau gạo, đóng góp 20–25% kim ngạch xuất khẩu nông sản và mang lại nguồn thu ngoại tệ từ 500 triệu USD đến hơn 1 tỷ USD mỗi năm, đồng thời giải quyết việc làm cho hơn 670.000 lao động, tập trung chủ yếu tại khu vực Tây Nguyên.

Thị trường Liên minh Châu Âu (EU) gồm 27 quốc gia thành viên là khu vực có quy mô kinh tế lớn, thu nhập bình quân đầu người cao và nhu cầu tiêu thụ cà phê bền vững. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và hoàn tất tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) cùng Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (IPA) mở ra cơ hội mở rộng thị trường. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu cà phê sang EU vẫn đối mặt với nhiều bất cập như sản xuất manh mún, tỷ lệ xuất khẩu cà phê Robusta chưa qua chế biến quá cao trong khi thị trường EU ưa chuộng Arabica, và tỷ lệ sản phẩm bị loại thải do chưa đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng còn lớn. Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang 6 quốc gia EU trọng điểm giai đoạn 2010–2019.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2010–2019 sang 6 quốc gia thành viên EU gồm: Bồ Đào Nha, Bỉ, Đức, Ý, Pháp và Tây Ban Nha; chỉ rõ các thành tựu, tồn tại về sản lượng, kim ngạch, giá cả và cơ cấu chủng loại.
  2. Xây dựng mô hình kinh tế lượng dựa trên lý thuyết lực hấp dẫn để xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố kinh tế, nhân khẩu học và địa lý đến kim ngạch xuất khẩu cà phê.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường EU trong bối cảnh thực thi EVFTA.

Câu hỏi nghiên cứu (theo văn bản):

  1. Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam trong giai đoạn 2010–2019 sang 6 nước: Bồ Đào Nha, Bỉ, Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Đức diễn ra như thế nào?
  2. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Cà Phê Việt Nam sang 6 nước trong thị trường EU như thế nào?
  3. Để đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường EU, cần có những biện pháp và chính sách như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu ngành cà phê của Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: 6 thị trường nhập khẩu cà phê chủ lực của Việt Nam trong khối EU gồm Đức, Ý, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm từ 2010 đến 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung nghiên cứu dựa trên hệ thống lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển và hiện đại:

  • Khái niệm và quy định pháp lý: Khái niệm xuất khẩu theo Luật Thương mại 2005 (Điều 28, Khoản 1) và phân loại các hình thức xuất khẩu (xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp, buôn bán đối lưu, giao dịch tái xuất, liên doanh, xuất khẩu gia công ủy thác) theo tổng hợp của Lê Ngọc Hải (Tạp chí VOER).
  • Hệ thống lý thuyết nền tảng: Chủ nghĩa trọng thương thế kỷ XVI tại Anh; Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (Wealth of Nations); Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo (Principles of Political Economy, 1817); Lý thuyết Lợi thế tương đối yếu tố sản xuất của Heckscher-Ohlin (H-O).
  • Khung phân tích định lượng: Mô hình lực hấp dẫn tổng quát (Gravity Model) trong thương mại quốc tế của Bergstrand (1985), kết hợp kết quả kế thừa từ các công trình thực nghiệm quốc tế (Elsevier B.V, 2014; Amer. Agr, 1993; Thornton & Goglio, 2002; Bikker, 2009; Baldwin, 1994; Helpman, 1998) và nghiên cứu tại Việt Nam (Vũ Bạch Diệp và cộng sự, 2018; Võ Thy Trang, 2015; Mai Thị Cẩm Tú, 2017; Trần Trung Hiếu & Phạm Thị Thanh Thủy, 2010; Trần Thanh Long & Phạm Thị Quỳnh Hoa, 2015; Nguyễn Anh Thu).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp định tính: Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp logic, thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chiếu để đánh giá biến động kim ngạch, sản lượng, giá trị và cơ cấu thị trường.
  • Phương pháp định lượng: Hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data) với tần suất theo quý từ Quý 1/2010 đến Quý 4/2019 cho 6 quốc gia (tổng số 240 quan sát). Quy trình ước lượng thực hiện trên phần mềm STATA 14, so sánh qua ba phương pháp: Hồi quy gộp OLS (Pooled OLS với tùy chọn Robust), Mô hình tác động cố định (FEM) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), kết hợp kiểm định Breusch-Pagan LM (Xttest0), kiểm định đa cộng tuyến (VIF) và kiểm định phương sai sai số thay đổi.

Mô hình kinh tế lượng đề xuất: $$\ln(EXP_{ijt}) = \beta_0 + \beta_1 \ln(GDP_{it}) + \beta_2 \ln(GDP_{jt}) - \beta_3 \ln(POP_{jt}) - \beta_4 \ln(DIST_{ij}) - \beta_5 HIS + U_{ijt}$$

Bảng mô tả các biến và kỳ vọng dấu trong mô hình:

Ký hiệu biến Định nghĩa và đơn vị tính Nguồn dữ liệu Kỳ vọng dấu
$EXP_{ijt}$ Kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang nước $j$ quý $t$ (Triệu USD/Tấn) Tổng cục Thống kê / Vinanet Biến phụ thuộc
$GDP_{it}$ Tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam tại quý $t$ (Tỷ USD) IMF $(+)$
$GDP_{jt}$ Tổng sản phẩm quốc nội của nước đối tác $j$ tại quý $t$ (USD) IMF $(+)$
$POP_{jt}$ Quy mô dân số của nước đối tác $j$ tại quý $t$ (Người) Danso.org / WDI $(-)$
$DIST_{ij}$ Khoảng cách địa lý giữa Hà Nội và thủ đô nước $j$ (km) Vietourist $(-)$
$HIS$ Biến giả đại diện cho yếu tố lịch sử quan hệ ngoại giao Tác giả tổng hợp $(+)$

Khoảng cách địa lý xác định trong nghiên cứu: Hà Nội đến Brussels (Bỉ): 8.950 km; Lisbon (Bồ Đào Nha): 11.156 km; Berlin (Đức): 9.327 km; Rome (Ý): 8.740 km; Paris (Pháp): 9.199 km; Madrid (Tây Ban Nha): 10.762 km.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hóa, vai trò của ngành cà phê đối với nền kinh tế đang phát triển và tổng quan tài liệu nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả chỉ ra rằng hoạt động xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ để phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và giải quyết việc làm.

Chương này cũng tổng hợp các hạn chế nội tại của ngành cà phê Việt Nam:

  • Sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, thiếu gắn kết chuỗi giá trị;
  • Mất cân đối cơ cấu sản phẩm khi tập trung quá mức vào Robusta, trong khi nhu cầu tiêu thụ Arabica trên thế giới tăng mạnh;
  • Chất lượng hạt xuất khẩu chưa đồng đều do khâu thu hái quả xanh, kỹ thuật sấy phơi thô sơ và chưa áp dụng rộng rãi tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4193:2005.

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang một số nước trong thị trường EU trong giai đoạn 2010-2019

Chương 2 phân tích chi tiết dữ liệu thực tế về sản xuất và thương mại cà phê của Việt Nam giai đoạn 2010–2019:

  • Quy mô ngành: Diện tích trồng cà phê cả nước đạt khoảng 390.000 ha, sản lượng đạt từ 700.000 tấn đến trên 1,8 triệu tấn/năm. Việt Nam giữ vị trí quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới (sau Brazil) và đứng đầu thế giới về cà phê Robusta.
  • Diễn biến toàn cầu: Kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt đỉnh 3,7 tỷ USD vào năm 2012 (tăng 121,6% so với năm trước), sản lượng năm 2018 đạt 1,82 triệu tấn. Giá xuất khẩu biến động từ 37,1 triệu đồng/tấn (năm 2010) lên đỉnh điểm 43,8 triệu đồng/tấn (năm 2017), sau đó giảm xuống 40,2 triệu đồng/tấn (khoảng 1.989 USD/tấn) vào năm 2019.

Bảng: Lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang 6 nước EU giai đoạn 2010–2019 (Đơn vị: Tấn)

Năm Bỉ Bồ Đào Nha Đức Ý Pháp Tây Ban Nha
2010 58.648 7.556 511.378 75.401 17.688 80.910
2011 94.914 7.629 135.856 83.903 16.313 63.220
2012 62.427 11.661 207.638 97.962 36.455 105.820
2013 109.965 10.604 184.916 83.541 35.198 96.570
2014 108.784 13.099 248.607 113.552 43.255 113.571
2015 61.490 11.930 191.686 105.579 32.612 117.599
2016 81.279 12.178 275.678 136.223 40.031 115.464
2017 64.730 12.313 213.172 180.651 33.245 101.820
2018 75.128 17.051 251.475 136.159 39.182 121.872
2019 73.229 15.206 178.549 141.035 34.426 134.005

Bảng: Cơ cấu thị hiếu nhập khẩu cà phê tại các nước đối tác EU

Quốc gia Tỷ lệ cà phê Arabica ưa chuộng (%) Tỷ lệ cà phê Robusta (%) Tỷ lệ cà phê khác (%)
Ý > 90,0% < 10,0% -
Bồ Đào Nha 74,2% - -
Đức 72,2% - -
Tây Ban Nha 63,3% - -

Trong khi đó, cơ cấu chủng loại xuất khẩu của Việt Nam sang EU gồm 92% là Robusta, Arabica chỉ chiếm dưới 6% và cà phê qua chế biến chiếm khoảng 2%.

Về rào cản chất lượng, trong niên vụ 2018/2019 tại 6 nước EU, có 1.325.000 bao (loại 60 kg) cà phê nhập khẩu bị thải loại (giảm 23% so với niên vụ 2016/2017), trong đó cà phê Việt Nam chiếm tới 896.521 bao (tương đương 63%). Tổng số lượng cà phê dưới chuẩn CQP tại EU là 1,8 triệu bao, trong đó hàng Việt Nam chiếm khoảng 46%.

Chương 3: Phương pháp luận và mô hình ước lượng tác động của các yếu tố đến xuất khẩu của Việt Nam

Chương 3 trình bày việc xây dựng dữ liệu bảng 40 quý (2010–2019) cho 6 quốc gia và thực hiện kiểm định các khuyết tật mô hình:

  • Tác giả loại bỏ các biến: Tỷ giá hối đoái, Độ mở thương mại và Hiệp định thương mại do tính khả dụng của số liệu theo quý bị hạn chế.
  • Kết quả kiểm định thống kê cho thấy sự biến thiên của GDP các nước đối tác (Đức cao nhất, Bồ Đào Nha thấp nhất nhưng ổn định) và khoảng cách vận tải từ Hà Nội đến các thủ đô châu Âu là những biến số có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô giao thương song phương.

Chương 4: Các giải pháp và kiến nghị để thúc đẩy xuất khẩu cà phê sang một số nước trong thị trường EU

Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ kết quả phân tích thực trạng và kiểm định mô hình:

  • Tái cơ cấu quy hoạch vùng trồng, mở rộng diện tích Arabica tại Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên) và vùng cao Tây Nguyên;
  • Nâng cấp dây chuyền công nghệ chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, thay thế phương pháp phơi sấy thủ công;
  • Kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, tạp chất theo tiêu chuẩn TCVN 4193:2005 để giảm tỷ lệ hàng bị trả về tại cảng EU;
  • Tận dụng cam kết cắt giảm thuế quan từ Hiệp định EVFTA và khung pháp lý của Hiệp định IPA.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Khẳng định Đức là thị trường nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhất trong khối EU suốt giai đoạn 2010–2019 (đạt đỉnh 511.378 tấn năm 2010 và đạt 178.549 tấn năm 2019), tiếp theo là Ý (đạt 141.035 tấn năm 2019) và Tây Ban Nha (đạt 134.005 tấn năm 2019).
  • Làm rõ sự bất cập giữa nguồn cung xuất khẩu của Việt Nam (92% Robusta) và nhu cầu tiêu thụ tại EU (các nước tiêu thụ 63,3% đến trên 90% Arabica).
  • Lượng hóa thực trạng chất lượng: Việt Nam chiếm 63% tổng lượng bao cà phê bị thải loại tại 6 nước EU trong niên vụ 2018/2019 (896.521 bao trên tổng số 1.325.000 bao), đồng thời chiếm 46% lượng cà phê dưới chuẩn CQP.
  • Xác định chiều hướng tác động của các yếu tố: GDP Việt Nam và GDP đối tác tác động cùng chiều (+); khoảng cách địa lý và dân số nước đối tác tác động ngược chiều (-) đến kim ngạch xuất khẩu.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Về phía doanh nghiệp: Chuyển dịch hình thức xuất khẩu từ nhân xô thô sang cà phê chế biến có giá trị gia tăng cao; ký kết hợp đồng xuất khẩu trực tiếp qua văn phòng đại diện tại EU; hiện đại hóa thiết bị sấy, phơi nhằm hạn chế hạt đen, vỡ và ẩm mốc.
  • Về phía cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện quy hoạch vùng chuyên canh; hỗ trợ vốn và chuyển giao kỹ thuật canh tác đạt chuẩn an toàn sinh học; ban hành cơ chế giám sát thực thi tiêu chuẩn TCVN 4193:2005; đẩy mạnh phổ biến cam kết EVFTA và IPA cho các hiệp hội, nông dân và doanh nghiệp.

Đóng góp của khóa luận:

  • Đề tài là một trong số ít nghiên cứu tiếp cận định lượng chuyên sâu về xuất khẩu cà phê sang EU sử dụng dữ liệu bảng tần suất theo quý (40 quý trong 10 năm), khắc phục hạn chế của các bài viết thuần định tính trước đó.
  • Cung cấp bức tranh số liệu chi tiết về tỷ lệ thải loại sản phẩm và sự lệch pha cơ cấu giống cà phê giữa Việt Nam và thị trường EU.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi mẫu: Nghiên cứu tập trung vào 6 quốc gia nhập khẩu lớn nhất (Đức, Ý, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha), chưa bao quát toàn bộ 27 quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu.
  • Hạn chế về biến số mô hình: Do khó khăn trong việc thu thập chuỗi số liệu theo quý, mô hình chưa đưa vào kiểm định các biến độc lập quan trọng như: tỷ giá hối đoái thực song phương, độ mở thương mại và biến định lượng tác động của các hiệp định thương mại cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng tập dữ liệu sang toàn bộ khối EU, kéo dài chuỗi thời gian sau khi Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu lực và bổ sung các biến đại diện cho chi phí logistics, hàng rào phi thuế quan (SPS/TBT).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giảng viên, sinh viên ngành Kinh tế học, Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế; các nhà nghiên cứu chính sách nông nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu cà phê sang thị trường châu Âu.
  • Phần nội dung giá trị:
    • Dữ liệu thống kê chi tiết theo từng thị trường tại Bảng 2 về sản lượng xuất khẩu sang 6 nước EU giai đoạn 2010–2019.
    • Khung phân tích thực trạng chất lượng, tỷ lệ thải loại theo chuẩn CQP và độ vênh cơ cấu Arabica/Robusta tại Chương 2.
    • Phương pháp thiết lập mô hình lực hấp dẫn với dữ liệu bảng theo quý tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận lựa chọn những quốc gia nào trong khối EU để nghiên cứu thực nghiệm? Khóa luận lựa chọn 6 quốc gia EU nhập khẩu cà phê nhiều nhất của Việt Nam giai đoạn 2010–2019 gồm: Đức, Ý, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

2. Cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam sang EU có điểm gì bất cập so với thị hiếu tiêu dùng tại khu vực này? Việt Nam xuất khẩu sang EU chủ yếu là cà phê Robusta (chiếm khoảng 92%), Arabica chỉ chiếm dưới 6% và 2% là cà phê đã qua chế biến. Ngược lại, thị trường EU có nhu cầu tiêu thụ chủ yếu là Arabica (Ý chiếm trên 90%, Bồ Đào Nha 74,2%, Đức 72,2%, Tây Ban Nha 63,3%).

3. Tỷ lệ cà phê Việt Nam bị thải loại tại 6 nước EU trong niên vụ 2018/2019 là bao nhiêu? Trong niên vụ 2018/2019, tổng số bao cà phê bị loại tại 6 nước EU là 1.325.000 bao (loại 60 kg), trong đó cà phê Việt Nam chiếm 896.521 bao, tương đương tỷ lệ 63%. Hàng Việt Nam cũng chiếm 46% tổng lượng cà phê bị đánh giá dưới chuẩn CQP.

4. Vì sao tác giả không đưa các biến tỷ giá hối đoái, độ mở thương mại và hiệp định thương mại vào mô hình định lượng? Tác giả nêu rõ nguyên nhân là do việc khai thác và tổng hợp chuỗi số liệu của các biến này theo tần suất quý trong giai đoạn 2010–2019 gặp nhiều khó khăn và không đủ độ tin cậy để chạy mô hình hồi quy.

5. Khoảng cách địa lý từ Hà Nội đến thủ đô của 6 nước nghiên cứu là bao nhiêu? Khoảng cách được xác định trong văn bản gồm: Bỉ (8.950 km), Bồ Đào Nha (11.156 km), Đức (9.327 km), Ý (8.740 km), Pháp (9.199 km) và Tây Ban Nha (10.762 km).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hồng Nhung đã phản ánh toàn diện bức tranh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang 6 thị trường EU trọng điểm trong giai đoạn 2010–2019 thông qua phương pháp phân tích thực trạng kết hợp mô hình kinh tế lượng lực hấp dẫn. Công trình chỉ rõ những rào cản căn bản của ngành cà phê nước ta về chất lượng hạt nhân xô, tỷ lệ lỗi thải loại cao và sự lệch pha cơ cấu giống cây trồng so với thị hiếu tiêu dùng châu Âu. Các giải pháp đề xuất về nâng cao chất lượng chế biến, chuyển đổi cơ cấu giống Arabica và khai thác ưu đãi từ hiệp định EVFTA mang tính thực tiễn cao cho chiến lược phát triển bền vững ngành hàng cà phê Việt Nam.