Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Nội dung chương này trình bày gồm lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về doanh nghiệp, xuất khẩu gạo, lý thuyết kinh tế học, các nghiên cứu liên quan, mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày nguồn dữ liệu, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp phân tích số liệu, mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày giới thiệu tổng quan về hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất gạo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, đặc điểm 123doc 4 mẫu khảo sát, phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Kết luận và hàm ý chính sách. Nội dung chương này trình bày tóm tắt những kết quả đạt được của luận văn, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp, cải thiện đời sống. Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
123doc 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU GẠO 2. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu gạo 2. Khái niệm về xuất khẩu Cùng với sự phát triển của xã hội và tri thức nhân loại, những phương thức sản xuất tiên tiến, đa dạng lần lýợt xuất hiện đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại; nhiều quốc gia đã sản xuất được lượng hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng cao và lượng hàng hóa này không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn trao đổi, mua bán với nước ngoài.
Adam Smith (1776) cho rằng: phân công lao động xã hội dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất, từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất sẽ tạo ra một khối lýợng hàng hóa lớn ðáp ứng ðủ nhu cầu trong nýớc và dý ra một lýợng ðể xuất khẩu ra nýớc ngoài. Mặt khác, David Ricardo (1817) ðã đưa ra học thuyết lợi thế so sánh; ông cho rằng:“khi một quốc gia sản xuất và đem trao đổi những mặt hàng có lợi thế tương đối của mình với một quốc gia khác thì cả hai quốc gia đều thu được lợi nhuận”. Theo Khoản 1 Điều 28 của Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005: “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Như vậy, xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hóa ra khỏi một quốc gia để bán và dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi với một hàng hóa khác có giá trị tương đương.
Các hình thức xuất khẩu Thị trường luôn đa dạng và phong phú, chính vì thế muốn chiếm thị phần và phân tán rủi ro, các doanh nghiệp có thể lựa chọn những hình thức xuất khẩu hàng hóa chủ yếu sau: Hình thức XK trực tiếp: là hình thức xuất khẩu, trong đó người bán (người sản xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp 123doc 6 mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác (Cao Phước Sơn, 2015). Hình thức XK qua trung gian:là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ ba và người thứ ba này sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định. Người trung gian phổ biến trong các giao dịch quốc tế là đại lý và môi giới (Cao Phước Sơn, 2015). Hình thức XK tại chỗ: là hình thức xuất khẩu ngay tại đất nước mình.
Đó là việc bán hàng và thực hiện các dịch vụ cho người nước ngoài. Hàng xuất khẩu tại chỗ có thể dùng ngay tại chỗ hoặc được người mua đem ra nước ngoài (Cao Phước Sơn, 2015). Hình thức tái xuất khẩu: là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước mua khác những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất khẩu. Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua hàng hóa ở nước này rồi bán hàng hóa với giá cao hơn ở nước khác và thu về số vốn lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu.
Hoạt động tái xuất khẩu có thể chia làm hai hình thức: hình thức tạm nhập - tái xuất và hình thức chuyển khẩu (Cao Phước Sơn, 2015), trong đó: - Hình thức tạm nhập - tái xuất: theo Khoản 01 Điều 29 Luật Thương mại quy định: “tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”. - “Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện theo các hình thức sau đây: hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam; hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hoá tại các 123doc 7 cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam” (Điều 30 Luật Thương mại). Gia công xuất khẩu: Theo Điều 178 của Luật Thương mại: “gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao”.
Vậy, gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt hàng gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước; người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo nhu cầu của khách, toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công (Cao Phước Sơn, 2015). Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu là một khâu quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, thực tế chứng minh rằng nhiều quốc gia đã thoát nghèo nhờ thực thi chính sách xuất khẩu, do vậy muốn phát triển kinh tế duy trì và mở rộng tái sản xuất trong nước, tranh thủ những tiến bộ của khoa học và công nghệ mới thì xuất khẩu được xem là đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia. Điều này thể hiện ở các mặt sau: (i) Xuất khẩu có thể coi như là một trong các hoạt động tạo nguồn ngoại tệ cho một quốc gia, mặt khác nó được cho là tạo nguồn vốn tích lũy quan trọng để nhập khẩu và tích lũy phát triển sản xuất; hơn nữa, xuất khẩu còn góp phần đáng kể việc cải thiện cán cân xuất nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (ii) Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc nâng cao đời sống của người dân.
Để tạo ra được sản phẩm để xuất khẩu cần có nhiều nhân công tham gia vào quá trình sản xuất, từ đó tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, tăng thu nhập cho người lao động. Ngoài ra, xuất khẩu còn góp phần mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường vị thế kinh tế của quốc gia trên thị trường thế giới. (iii) Xuất khẩu hàng hóa còn là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế của một quốc gia, mặt khác nó còn góp phần cải tiến cơ chế quản lý, chính sách kinh tế của nhà nước cho phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. 123doc 8 (iv) Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nhiều đối tác trên thế giới, luôn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức; vì vậy muốn tồn tại tự bản thân doanh nghiệp luôn đổi mới, hoàn thiện công tác quản trị đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Đặc điểm của thị trường xuất khẩu gạo Thị trường luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, như các loại thị trường khác thị trường xuất khẩu gạo là tập hợp các thỏa thuận giữa người mua và người bán; tuy nhiên gạo là sản phẩm đặc thù (nuôi sống con người và là sản phẩm của ngành nông nghiệp) nên thị trường gạo có những đặc điểm như sau: (i) Thị trường có tính thời vụ: xuất khẩu gạo luôn gắn liền với quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, dự trữ gạo của từng quốc gia; cứ sau thời điểm thu hoạch, thị trường lúa gạo thế giới trở nên sôi động và sự sôi động này diễn ra như thế nào? kéo dài trong thời gian bao lâu? tùy thuộc vào khả năng điều hành, dự trữ, bảo quản gạo của từng nước. Nếu khả năng điều hành, dự trữ, bảo quản tốt thì họ có thể phân bổ đều khắp các tháng trong năm; ngược lại những quốc gia nào khả năng điều hành, dự trữ, bảo quản kém thì họ có thể bán ngay sau khi thu hoạch và đây cũng chính là hạn chế của họ vì bán vào thời điểm thu hoạch thì giá cả bao giờ cũng thấp. (ii) Quan hệ đối tác chủ yếu trong thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu là giao dịch giữa hai Chính phủ: gạo là hàng hóa thiết yếu nên nhu cầu về gạo tương đối ổn định so với các loại hàng hóa khác; mặt khác để đảm bảo an ninh lương thực thì Chính phủ của mỗi quốc gia đều có chính sách riêng. Do đó, từ đầu năm hay đầu vụ Chính phủ các nước thường thỏa thuận thống nhất với nhau thông qua các hiệp định hay hợp đồng có sản lượng cụ thể.