phần mở đầu, kết luận chung và phần phụ lục, bài luận văn gồm ba chương: Chƣơng I. Tổng quan về Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu. Chƣơng II. Cơ hội và thách thức của xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường một số nước thành viên tiềm năng.
Chƣơng III. Giải pháp tận dụng tối đa Hiệp định Thương mại tự do Việt nam – Liên minh kinh tế Á Âu Mặc dù đã cố gắng, nhưng do những hạn chế về năng lực, trình độ cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên bài luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn. Qua đây người viết xin được gửi lời cám ơn đến sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Văn Hồng đã giúp tôi hoàn thành bài luận văn trong suốt thời gian qua.
6 Luan van CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU. Giới thiệu về Liên minh kinh tế Á Âu 1. Quá trình hình thành Liên minh kinh tế Á Âu Sau khi kết thúc chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Liên Xô, Nga và các nước cộng hòa Trung Á đối mặt với việc nền kinh tế đang khủng hoảng trầm trọng và sự sụt giảm tăng trưởng GDP. Ngay sau đó, nhiều nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ vẫn giữ quan hệ gần gũi với Nga và hình thành các tổ chức đa phương như Cộng đồng Kinh tế Á Âu, Nhà nước Liên minh Nga Belarus, Cộng đồng Liên minh thuế quan kinh tế Á Âu Belarus, Kazakhstan, Nga, Liên minh Âu Á (thay thế Cộng đồng Kinh tế Á Âu từ ngày 01/01/2015) nhằm tăng cường hợp tác kinh tế, an ninh, để từ đó cải thiện được tình hình sụt giảm trầm trọng của nền kinh tế các nước trong khu vực.
Cụ thể, năm 1994, trong bài diễn văn tại Đại học Quốc gia Moskva, tổng thống Kazakhstan, Nursultan Nazarbayev đã nêu ra ý tưởng về việc thành lập một khu vưc mậu dịch tự do để kết nối và giúp tăng trưởng nền kinh tế giữa châu Âu và Đông Á. Nó nhanh chóng được xem là một cách để thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư và tạo ra đối trọng với liên minh kinh tế của phương Tây. Năm 1999, Belarus, Kazakhstan, Nga, Kyrgyzstan và Tajikistan đã kí hiệp định về Liên minh Thuế quan và Không gian kinh tế thống nhất vì các mục tiêu và các chính sách mà các quốc gia đang theo đuổi để bước đầu hình thành nên Liên Minh Thuế quan Á Âu và Không gian Kinh tế thống nhất Để tiến xa hơn trong việc liên kết và hợp tác kinh tế, năm 2000, Belarus, Kazakhstan, Nga, Kyrgyzstan và Tajikistan đã thành lập Cộng đồng Kinh tế Á Âu (EurAsEC), Uzbekistan đã tham gia vào năm 2006. Mục tiêu nhằm thành lập một thị trường chung thống nhất cho tất cả các nước thành viên.
Cộng đồng Kinh tế Á Âu được ra đời dựa trên khuôn mẫu của Cộng đồng Kinh tế châu Âu với quy mô dân số trên 171 triệu dân (vào năm 2000). Đây là nền tảng để tiếp tục hoàn thành tiến trình hội nhập tiến tới thành lập một thị trường chung thống nhất. 7 Luan van Đến ngày 01/01/2010, tiến trình hợp tác giữa các quốc gia này được tiến thêm một bước nữa khi Liên minh Hải quan Á Âu (Eurasian Customs Union, viết tắt: EACU) được chính thức thành lập. Liên minh ban đầu gồm Belarus, Kazakhstan, và Nga, sau đó kết nạp thêm Armenia và Kyrgyzstan từ ngày 1 tháng 1 năm 2015.
Liên minh Hải quan được thành lập bước đầu sẽ như là một tổ chức giống với Liên minh châu Âu. Các thành viên sẽ hội nhập nền kinh tế và gỡ bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước sau tháng 6 năm 2011. Ngày 19 tháng 11 năm 2011, các nước thành viên đã đặt ra một nhiệm vụ chung trong việc liên kết các nền kinh tế, kế hoạch thành lập Liên minh Kinh tế Á Âu vào năm 2015. Ngày 1 tháng 1 năm 2012, ba thành viên đã hình thành một không gian kinh tế chung để tiến tới thành lập một liên minh kinh tế thống nhất.
Sự hình thành của Liên minh được xây dựng dựa trên 3 hiệp định vào các năm 1995, 1999 và 2007. Hiệp định đầu tiên vào năm 1995 quyết định việc thành lập Liên minh, vào năm 1999 hiệp định thứ hai được kí kết nêu lên các thức tổ chức, và cuối cùng vào năm 2007 chính thức tuyên bố việc thành lập một khu vực kinh tế xóa bỏ hàng rào thuế quan và việc hình thành Liên minh. Dựa trên cở sở thống nhất hai Tổ chức tiền thân là Cộng đồng kinh tế Á Âu và Liên minh Hải quan Á Âu, một liên minh kinh tế giữa Armenia, Kazakhstan, Nga, Belarus và Kyrgyzstan được chính thức ra đời vào ngày 29/05/2014 đó là Liên minh Kinh tế Á Âu (Euroasian Economic Union viết tắt EAEU). Lễ ký kết Hiệp ước về Liên minh Kinh tế Á-Âu được tổ chức tại Astana, Kazakhstanvào ngày 29 tháng 5 năm 2014.
Tổng quan về thị trƣờng Liên minh kinh tế Á Âu Liên minh Kinh tế Á Âu hiện có 5 thành viên chính thức là Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan. - Tổng GDP tính đến cuối năm 2014 đạt 2,200 tỷ USD; - Dân số tính đến năm 2015 đạt khoảng 183.3 triệu người; 8 Luan van - Liên minh giàu các tài nguyên thiên nhiện như dầu mỏ, khí ga, than đá, quặng sắt, … - Tổng diện tích khoảng hơn 20 triệu km2 Những đối tác nhập khẩu chính của Liên minh là EU (chiếm khoảng 40- 50%), Trung Quốc, Thổ Nhĩ kỳ. Việt Nam đứng khoảng thứ 24 trong số các nước nhập khẩu từ Liên minh. Những đối tác xuất khẩu chính của Liên minh là EU (hơn 40%), Trung Quốc, Hoa Kỳ.
Việt Nam đứng khoảng thứ 11 trong số các nước xuất khẩu sang Liên minh. Những mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Liên minh bao gồm: thiết bị điện, điện tử, hàng dệt may, giày dép, cà phê, chè, trái cây, thực phẩm chế biến, hạt điều… Những mặt hàng Liên minh xuất khẩu chính sang Việt Nam bao gồm: nhiên liệu khoáng sản, dầu mỏ, phân bón, máy móc thiết bị điện, lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, thiết bị chụp ảnh, quang học, sắt thép, muối, lưu huỳnh, xi măng, ô tô, khí ga tự nhiên… Cơ chế điều phối các hoạt động hợp tác về thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh ở cấp Chính phủ là các Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học – kỹ thuật. Ngoài ra, còn có các Tiểu ban, các Tổ công tác chuyên ngành để trao đổi sâu hơn, cụ thể hơn về các dự án chuyên ngành. Thông thường, các Ủy ban liên Chính phủ họp một năm một lần.
Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu 1. Xu thế hợp tác song phƣơng trên thế giới và khu vực Những năm đầu của thập niên 1990, bên cạnh quá trình toàn cầu hóa là sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa khu vực. Bước sang năm 2001, sau thấ t ba ̣i của vòng đàm phán Đô -ha trong khuôn khổ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) hệ thống thương mại đa phương dần bị mất lòng tin. Làn sóng hình thành 9 Luan van các FTAs song phương và nhiều bên diễn ra sôi đô ̣ng ở khắ p mo ̣i nơi v ới hai đô ̣ng cơ cơ bản là động cơ kinh tế và động cơ chính trị.
Động cơ kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định trong việc xác lập nội dung và hình thức của các liên kết FTAs. Tùy thuộc vào đặc điểm và trình độ phát triển của các bên tham gia , các đàm phán FTAs sẽ xác lập lợi ích cân bằng và đưa ra những thỏa thuâ ̣n tương đương. Những thỏa thuâ ̣n này thông thường là các ca m kết cắt giảm thuế quan giữa hai hay nhiều bên tham gia. Ở mức độ cao hơn có thể bao hàm cả các vấn đề về tự do hóa dịch vụ, đầu tư và các thỏa thuận hợp tác kinh tế khác.
Một số nền kinh tế như Sing-ga-po, Bru-nay, Hồng Kông chịu sự ảnh hưởng lớn từ hoạt động ngoại thương và đầu tư nước ngoài nên mục đích tham gia các FTAs thường để củng cố vị thế của mình trong các liên kết kinh tế khu vực. Một số FTAs được thiết lập giữa các nước trong một khối và một quốc gia ngoài khối thì la ̣i nhằm mục đích thiết lập kênh nhập khẩu nguyên nhiên liệu, máy móc, thiết bị…ổn định phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế. Còn các nước đang phát triển thì chủ yếu tập trung đàm phán các FTAs với các nước là phát triển nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Trong khi đó các nước phát triển với lơ ̣i thế về công nghê ̣ và vố n như Nhật Bản , EU, Hoa Kỳ la ̣i luôn có chủ trương tìm kiếm lơ ̣i ić h từ các FTAs trong hoạt động đầu tư các ngành chế tạo , dịch vụ từng bước gây dựng và đa dạng hóa các chuỗi cung ứng phạm vi khu vực và toàn cầu , thông qua đó đẩy biên giới kinh tế đi xa khỏi biên giới hải quan truyền thống , duy trì mối liên hệ bền chặt với các nền kinh tế của các đối tác.
Ngoài ra, các FTAs cũng là biện pháp giúp các nước này kiểm soát c ác vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm , tiêu chuẩn kỹ thuật, thậm chí kể cả tiêu chuẩn về môi trường , an ninh, chất lượng lao động vốn không thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO nhưng rấ t đươ ̣c quan tâm. Bên ca ̣nh tiń h chấ t quyế t đinh ̣ của các động cơ kinh tế, động cơ chính trị cũng là yếu tố không thể thiếu trong bất cứ FTA nào. Các nước luôn mong muốn nâng cấp mối quan hệ ngoại giao, chính trị bằng cách dành cho nhau sự đối xử tốt hơn trong quan hệ kinh tế và thương mại thông qua các FTAs, đặc biệt là khi xu thế đối đầu trực tiếp được dần thay thế bằng xu thế hòa hoãn, đối thoại trên thế giới.