CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẮN LÁT SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC 1.1 CƠ SỞ ĐỂ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẮN LÁT 1.1 Học thuyết trọng thương Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVII, là hệ tư tưởng đầu tiên của giai cấp tư sản, xuất hiện ở Anh và Pháp sau đó lan rộng ra cả châu Âu trong bối cảnh trình độ sản xuất đã được nâng cao nhất định, công nghiệp phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa…tạo điều kiện cho hoạt động thương mại phát triển. Lúc bấy giờ giới thương nhân được đề cao và chính họ đã đề xướng ra lý thuyết căn bản của trường phái kinh tế này. Nội dung cơ bản của thuyết trọng thương là coi trọng xuất khẩu, cho rằng xuất khẩu là con đường mang lại phồn vinh cho đất nước, đánh giá cao vai trò của tiền tệ, xem tiền là tiêu chuẩn, là thước đo căn bản của sự giàu có. Do đó, mục đích chính trong chính sách kinh tế của mỗi nước là phải làm gia tăng khối lượng tiền tệ.
Một quốc gia càng có nhiều tiền (vàng) thì càng giàu có, còn hàng hóa chỉ là phương tiện để tăng thêm khối lượng tiền tệ. Chỉ có ngoại thương mới là một phương tiện căn bản bền vững để tăng thêm của cải, tiền tệ. Khối lượng tiền tệ chỉ có thể tăng lên bằng con đường ngoại thương và ngoại thương phải thực hiện xuất siêu. Vì vậy, chính sách chung của mọi khuynh hướng trọng thương là phải xuất siêu, nhưng tùy vào từng giai đoạn và điều kiện mục tiêu, chính sách xuất siêu có thể khác nhau.
Tuy quan điểm của các nhà kinh tế theo chủ nghĩa trọng thương còn hạn chế và rất cực đoan khi họ xem hoạt động thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không, giữa hai quốc gia giao thương nếu bên này có lợi thì bên kia phải chịu thiệt hại tương ứng. Do đó, họ đòi hỏi trong quan hệ ngoại thương phải luôn xuất siêu để đảm bảo lợi ích quốc gia. Mặt khác, họ chủ trương thực hiện mọi biện pháp có thể được để đạt thặng dư trong cán cân thương mại quốc 123doc 6 tế, như: kêu gọi chính phủ bảo vệ mậu dịch, bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan và cấm ngặt việc xuất khẩu nguyên liệu; đảm bảo độc quyền kinh doanh để dành ưu thế cạnh tranh với nước ngoài. Nhưng chủ nghĩa trọng thương cũng đã nêu lên được quan điểm rất tiến bộ thời bấy giờ là biết coi trọng thương mại quốc tế và cho rằng chính phủ có vai trò can thiệp nhất định vào hoạt động kinh tế, nhất là hoạt động ngoại thương, mở đường cho các học thuyết về thương mại quốc tế sau này.
Vận dụng một số tư tưởng tiến bộ của học thuyết trọng thương tác giả nhận thấy rằng: Muốn phát triển kinh tế đất nước nói chung, phát triển ngành sắn nói riêng, thì phải đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Đồng thời, trong quá trình đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh sự nỗ lực vươn lên không ngừng của các doanh nghiệp, của người trồng s ắ n thì Chính quyền (Nhà nước và chính quyền địa phương) đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quy hoạch và phát triển ngành sắn Việt Nam.2 Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Adam Smith (1723 -1790) là nhà lý luận kinh tế chính trị học nổi tiếng người Anh, ông được coi là cha đẻ của các lý thuyết kinh tế thị trường. Adam Smith là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc thương mại quốc tế khi đưa ra ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc tế. Học thuyết lợi thế tuyệt đối còn được gọi là học thuyết về phân công lao động, nó nghiên cứu cơ sở của phân công lao động và trao đổi hàng hoá trong một nước và giữa các nước.
Phân công lao động là một tất yếu tự nhiên hay một thiên hướng tự nhiên. Động lực của phân công lao động là lợi ích kinh tế của mỗi cá nhân và sự phân công lao động đầu tiên cũng là sự phân công lao động giữa các cá nhân. Quan điểm của A.Smith đề cao vai trò cá nhân, ông cho rằng mọi người khi làm gì cũng nghĩ đến tư lợi của mình, nhưng điều đó cũng có lợi cho tập 123doc 7 thể và quốc gia. Do vậy, trong một quốc gia chính quyền không cần can thiệp vào hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp, cứ để họ phát triển sẽ có lợi cho nền kinh tế.Smith cho rằng hai quốc gia giao thương nên hợp tác trên cơ sở tự nguyện, hai bên cùng có lợi và dựa trên các sản phẩm có lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia.
Lợi thế tuyệt đối là sự khác biệt tuyệt đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để làm ra cùng loại sản phẩm. Mỗi quốc gia chỉ xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối. Theo lý thuyết này, sự chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối sẽ giúp các quốc gia khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên kinh tế của đất nước. Thông qua mậu dịch quốc tế, tổng khối lượng sản phẩm tiêu dùng sẽ tăng cao hơn và chi phí rẻ hơn so với trường hợp phải tự sản xuất hoàn toàn trong nước.
Ưu điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối chỉ rõ, mỗi quốc gia phải chuyên môn hóa sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối. Đồng thời thông qua trao đổi sản phẩm có lợi thế của nước khác để nâng cao hiệu quả nền kinh tế. Điều cốt lõi của khái niệm này cho rằng: các quốc gia giao thương đều có lợi trong các hoạt động thương mại quốc tế. Vận dụng học thuyết của A.
Smith, tác giả nhận thấy sắn Việt Nam có nhiều lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu như điều kiện tự nhiên phù hợp, chi phí lao động thấp, năng suất cao,… Đó là những yếu tố quyết định để ngành sắn Việt Nam có thể phát triển bền vững, bảo đảm nhu cầu tiêu thụ nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu.3 Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt về số lượng lao động thực tế được sử dụng ở các quốc gia khác nhau, thì lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối. David Ricardo (1772-1823) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh. Ông 123doc 8 được coi là nhà cổ điển cuối cùng, là tiền bối trực tiếp của Mác. Lý thuyết lợi thế so sánh (còn gọi là học thuyết lợi thế tương đối) của ông là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ cao hơn học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Học thuyết n à y là một đóng góp hết sức quan trọng, nó đặt cơ sở lý luận cho việc mở rộng phân công lao động và buôn bán giữa các nước. Nội dung của học thuyết lợi thế so sánh được phát biểu như sau: một quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu trở lại những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh. Khác với lợi thế tuyệt đối của A.Smith, lợi thế so sánh được hiểu là sự khác biệt tương đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để làm ra cùng loại sản phẩm. David Ricardo đã đưa ra những luận chứng thuyết phục.
Trước hết, xuất phát từ sự phân công lao động giữa những người sản xuất hàng hóa. Sau đó, ông mở rộng ra trong quan hệ giữa các nước để chứng minh rằng nếu như một nước hoàn toàn có lợi thế tuyệt đối và nước kia hoàn toàn không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm, trong trường hợp đó vẫn có thể quan hệ trao đổi với nhau và quá trình trao đổi ngoại thương đó vẫn có lợi cho mọi nước. Như vậy, nếu mỗi nước chuyên môn hoá vào các sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh thì thương mại sẽ có lợi cho cả hai bên. Với một năng lực sản xuất không đổi, tiền lương và thu nhập thực tế sẽ tăng ở cả hai.
Dù cho một trong hai nước hay khu vực có hiệu quả tuyệt đối cao hơn. Lý thuyết về lợi thế so sánh chỉ ra rằng: một quốc gia dù không có lợi thế tuyệt đối, nhưng có lợi thế so sánh (tương đối) về một loại sản phẩm nhất định và biết cách khai thác tốt các lợi thế này thông qua việc chuyên môn hóa sản xuất và thương mại quốc tế thì vẫn có thể nâng cao được hiệu quả của nền kinh tế của mình. Điều này đã khắc phục được nhược điểm cơ bản về lợi thế tuyệt đối của A.Smith và được coi là một trong những quy luật quan trọng nhất của kinh tế học phát triển. Vận dụng học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo tác giả nhận thấy để đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát bên cạnh việc khai thác hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, phát huy tính cần cù sáng tạo của người nông dân Việt 123doc 9 Nam còn phải tăng cường nghiên cứu, áp dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình lai chọn giống và không ngừng cải thiện tất cả các khâu từ sản xuất đến thu mua, chế biến, bảo quản… để nâng cao chất lượng sắn xuất khẩu, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm để có thể giữ vững và mở rộng thị trường hiện có.
Đồng thời, thâm nhập các thị trường mới và tiềm năng như thị trường Hàn Quốc, Nhật bản, Nga… 1.4 Học thuyết yếu tố thâm dụng Lý thuyết yếu tố thâm dụng còn gọi là lý thuyết Heckscher - Ohlin. Lý thuyết này cho rằng các quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm sử dụng phần lớn những yếu tố sản xuất mà họ có nhiều và họ sẽ nhập khẩu những sản phẩm đòi hỏi nhiều yếu tố sản xuất khan hiếm ở quốc gia họ, chính mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và hàm lượng các yếu tố sản xuất sử dụng để làm ra các mặt hàng khác nhau mới là những nhân tố quan trọng quy định thương mại.