Chương 1 là bức tranh toàn cảnh về phương diện kinh tế, xã hội, chính trị quốc tế và những van dé đang diễn ra, những nhân tố ngoại sinh và nội sinh tác động đến sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong khu vực ASEAN. Trong chương 2, tác giả đề cập đến sự xuất hiện của một môi trường mới; những thay đổi trong quan niệm của các chính phủ và những chủ thé trong lĩnh vực tư về các chỉ phí, lợi ích của hội nhập kinh tế khu vực và hội nhập ASEAN; vai trò của của FDI; quá trình toàn cầu hóa sản xuất do sự xuất hiện của những công ty đa quốc gia cũng như những áp lực đặt ra đối với chính sách tự do hóa thương mại giữa các nước ASEAN trước sự xuất hiện của một Thị trường đơn nhất Singapore - châu Âu năm 1992 và Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ. Với tiêu dé “Con đường dai và khúc khuỷu phía trước AFTA”, Chương 3 đã phân tích những mục tiêu của AFTA và những nhân tổ cơ bản của một Khu vực thương mại tự do như quy tắc xuất xứ, cắt giảm thuế quan, các quy tắc cạnh tranh, giải quyết tranh chấp, đồng thời cũng chi ra những yếu tố quan trọng ở cả phạm vi quốc tế lẫn khu vực có thê phá vỡ những cam kết mà AFTA đã ghi nhận. Trong hai chương cuối cùng, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất về những van đề ma ASEAN cần lưu tâm như thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia, những vấn đề liên quan đến xây dựng thé chế của ASEAN nói chung và AFTA nói riêng.
Một công trình khác cần được đề cập đến là cuốn sách: “Khu vực thương mại tự do ASEAN: những bài học kinh nghiệm và thách thức phía trước” (ASEAN Free Trade Area: Lessons learned and the challenges ahead) của Tiến si Myrna S. Austria, Trường Dai hoc De La Salle Philippines. Băng các số liệu dẫn chứng thực tế, tác giả đã khảo cứu khá chi tiếp về khoảng thời gian bắt đầu thực hiện AFTA, từ đó, tác giả đi đến những nhận định rang: trải qua một số năm, AFTA đã có những “bước nhảy” cần thiết hướng đến việc đạt được những mục tiêu của mình. Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến các “bước nhảy” như: các thời hạn liên tục được rút ngắn lại; đưa thêm nhiều sản phẩm được cắt giảm thuế mà dự định ban đầu không đưa vào; mở rộng phạm vi của AFTA hơn cả chương trình CEPT; và thuế quan được cắt giảm sâu trước thời hạn được đặt ra.
Từ những phân tích các số liệu cụ thể, tác giả cũng đã rút ra được những bài học kinh nghiệm của AFTA, như môi trường chính sách bên trong của mỗi thành viên; khuôn khổ của AFTA; ý chí và cam kết mang tính chính trị; và nguyên tắc đồng thuận trong quá trình ra quyết định của ASEAN. Bên cạnh đó, AFTA cũng còn phải đối mặt với rất nhiều thách thức ở 12 phía trước, như chương trình chưa hoàn thành, sự đòi hỏi về việc hội nhập ngày càng sâu hơn; chủ nghĩa khu vực gia tăng ở Đông Á. Cuốn sách “Con đường đến Cộng đồng kinh tế ASEAN” (Roadmap to an ASEAN Economic Community) của Denis Hew Wei-Yen năm 2005 đã phân tích những co sở cho sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN, từ bối cảnh thế giới, khu vực đến nhu cầu nội tại của ASEAN cũng như quá trình hop tác kinh tế của tô chức này; lợi ích và tác động cả về phương diện kinh tế và chính trị của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Trên cơ sở đánh giá những thành công của Liên minh châu Âu trong liên kết kinh tế, tác giả cũng phân tích những bài học kinh nghiệm mà ASEAN có thể tiếp thu từ tô chức này trong quá trình xây dựng AEC, trong đó đặc biệt nhẫn mạnh vào những cải cách về thé chế.
Trọng tâm của cuốn sách là trình bày những nội dung pháp lý và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện các nội dung pháp lý của Cộng đồng kinh tế ASEAN. Bên cạnh các công trình nghiên cứu về van dé tự do hóa thương mại, hợp tác kinh tế của ASEAN và Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) của các tác giả nước ngoài, các học giả ở Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu về van đề này. Đáng chú ý là các công trình như: 7 đo hoá thương mại ở ASEAN, tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nxb. Khoa học xã hội năm 2003; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Tự do hóa thương mại trong ASEAN, APEC, WTO và thực tiên hội nhập của Việt Nam” năm 2009 của Trường Đại học Luật Hà Nội do tác giả Lê Minh Tiến làm chủ nhiệm đề tài; Cuốn sách “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) - Nội dung và lộ trình”, tác giả Nguyễn Hồng Sơn chủ biên, Nxb.
Khoa học xã hội năm 2009; Cuốn sách “Hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN và tác động đến Việt Nam” do tác giả Nguyễn Văn Hà chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội năm 2013. Cuốn sách Tir do hoá thương mại ở ASEAN, tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung, đã làm rõ ba van đề cốt lõi mà hai trong số đó là những nội dung tổng quan về Khu vực thương mại tự do ASEAN và tự do hóa thương mai hàng hóa. 77 nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tự do hóa thương mại ở các nước đang phát triển.
Trong phần này, tác giả đã phân tích những lợi ích về kinh tế, những vấn đề cần phải giải quyết về chính sách, pháp luật, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế khi tham gia vào những thỏa thuận tự do hóa thương mại và những thách thức đặt ra với nền kinh tế của các quốc gia xuất phát từ sự hạn chế về năng lực cạnh tranh cũng như chưa đồng bộ về thê chế. Thi? hai là quá trình tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN. Cuốn sách đã làm rõ ý nghĩa của tự do hóa thương mại như một phương thức tat yêu đê phát triên kinh tê của môi nước thành viên, làm rõ vai trò 13 của hợp tác kinh tế đối với ASEAN và ý nghĩa của việc thay đổi trong mô hình hợp tác của Hiệp hội khi xây dựng kinh tế trở thành “xương sống” trong hợp tác của ASEAN từ những năm 90 trở lại đây, từ đó, khang định sự cần thiết trong việc thiết lập những thỏa thuận tự do hóa thương mại giữa các thành viên. Trên cơ sở phân tích những nội dung pháp lý của Thỏa thuận ưu đãi thương mại PTA 1977 và Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN, cuốn sách đã khái quát lại quá trình tự do hóa thương mại hàng hóa trong khuôn khổ ASEAN, từ đó làm rõ sự phát triển về phạm vi cũng như mức độ tự do hóa của AFTA so với những nội dung mà PTA năm 1977 trước đó đã quy định.
Xuất phát từ những nội dung pháp lý, tác giả đã trình bày quá trình thực hiện những nghĩa vụ của AFTA tại các quốc gia thành viên, qua đó, đưa ra những nhận định về tác động của AFTA đối với nền kinh tế của các quốc gia và liên kết kinh tế của cả khối. Cuối cùng, cuốn sách phân tích về những cải cách trong các chính sách có liên quan đến việc thực hiện AFTA, như chính sách thương mại, chính sách xây dựng nguồn nhân lực, năng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cho đến xây dựng thé chế, pháp luật quốc gia. Một đề tài khoa học có nội dung gần với những vấn đề của luận án là Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “7 đo hóa thương mại trong ASEAN, APEC, WTO và thực tiên hội nhập của Việt Nam” năm 2009 của Trường Đại học Luật Hà Nội do tác giả Lê Minh Tiến làm chủ nhiệm đề tài. Một trong những nội dung được làm rõ trong đề tài này là lý thuyết về tự do hóa thương mại, như: nội dung của tự do hóa thương mại, lợi ích của tự do hóa thương mại, chủ nghĩa khu vực trong hệ thống thương mại đa phương và vai trò của WTO, APEC và ASEAN đối với tự do hóa thương mại của các quốc gia thành viên.
Các chuyên đề của Đề tài đã khăng định những lợi ích tích cực của các thỏa thuận thương mại khu vực trong việc thúc đây sự phát triển của kinh tế thế giới và khu vực nhưng đồng thời cũng có thể dẫn đến xu hướng bảo hộ, can trở sự phát triển thống nhất của hệ thống thương mai thé giới. Trong cuốn sách “Cộng đông kinh tế ASEAN (AEC) - Nội dung và lộ trình” do tác giả Nguyễn Hồng Sơn chủ biên, tại Chương 2 với tiêu đề “Đặc trưng cơ bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và những vấn đề đặt ra”, các tác giả đã đề cập đến Khu vực thương mại tự do ASEAN như một trong những những nội dung của cấu trúc Cộng đồng kinh tế ASEAN. Cụ thé, cuốn sách đã giới thiệu những van dé pháp lý về AFTA theo quy định của Hiệp định ATIGA, bao gồm tự do hóa thuế quan (mục tiêu, lộ trình thực hiện), quy tắc xuất xứ, xóa bỏ rào cản phi thué quan va những nội dung pháp lý của thuận lợi hóa thương mại. Bên cạnh đó, cuốn sách đã phân tích khái quát những tác động của Cộng đồng kinh tế ASEAN mà AFTA là 14 một trong những trụ cột cấu thành nền kinh tế ASEAN cũng như nên kinh tế của các thành viên.
Trong cuốn sách “Hiện thuc hóa Cộng dong kinh tế ASEAN và tác động đến Việt Nam” do tác giả Nguyễn Văn Hà chủ biên, tại Chương 1 với tiêu đề “Khái quát mô hình AEC vào năm 2015”, các tác đã giả đã phân tích cau trúc nội dung của Cộng đồng kinh tế ASEAN với bốn trụ cột (i) Thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất; (ii) Khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao; (iii) Khu vực kinh tế phát triển đồng đều và (iv) Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, trong đó, tự do hóa thương mại hàng hóa thông qua Khu vực thương mại tự do ASEAN được tiếp cận dưới góc độ là một trong những nội dung cấu thành của trụ cột đầu tiên. Trong chương này, các tác giả không trình bày những vấn đề pháp lý về AFTA mà tập trung phân tích vị trí, vai trò của AFTA trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và mối quan hệ giữa AFTA với những nội dung còn lại của trụ cột thứ nhất cũng như mối quan hệ giữa AFTA với ba trụ cột còn lại của AEC.