đặt vấn đề nghiên cứu di chuyển lao động quốc tế nói chung (di chuyển lao động giữa nước này và nước khác) hay nghiên cứu việc di chuyển lao động quốc tế giữa nước đang phát triển và nước phát triển nói riêng. Nguyên nhân dẫn đến di chuyển lao động quốc tế Có 3 lý do khiến một nền kinh tế phải tìm kiếm nguồn lao động bên ngoài: Thứ nhất, là sự khan hiếm lao động chung xuất phát từ tốc độ tăng trưởng sản xuất vượt quá tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực. Lý do này thường có ở những nước phát triển kinh tế khi mà tốc độ tăng trưởng dân số chậm, mức độ già hóa dân số cao trong khi nhu cầu mở rộng sản xuất vẫn ngày càng lớn; Thứ hai, có rất nhiều công việc mà những người bản địa không làm hoặc không có khả năng làm gây ra hiện tượng thị trường lao động bị trống khuyết. Trong nền kinh tế phát triển, hầu hết người lao động đều được đào tạo ở một trình độ kỹ năng nhất định để cung cấp cho thị trường lao động chuyên môn cao.
Vì vậy, lao động trình độ chuyên môn thấp hoặc không chuyên môn để đáp ứng những công việc 3D (dirty – ô nhiễm; dangerous – nguy hiểm và difficult – khó khăn) sẽ trở nên khan hiếm. Ngược lại, ở những nước đang phát triển, do khoa học công nghệ phát triển khiến cho nhiều ngành nghề ra đời đòi hỏi những công việc chuyên môn cao. Nhưng do trình độ nguồn nhân lực thấp, nền giáo dục đào 13 tạo chưa phát triển tương xứng làm cho người lao động trong nước không thể làm được những công việc phức tạp, yêu cầu kỹ năng cao dẫn đến các nhà tuyển dụng phải tìm kiếm từ các nguồn bên ngoài thị trường trong nước; Thứ ba, do có sự mất cân đối giữa nhu cầu của các ngành nghề trong nền kinh tế với đào tạo nghề tại một thời điểm khiến cho tồn tại những thiếu hụt lao động ngắn hạn. Sự biến động của chu kỳ kinh tế dẫn đến biến động của xu hướng đào tạo.
Việc giảm sút nhu cầu tuyển dụng trong một ngành nào đó ở thời điểm hiện tại sẽ khiến cho người lao động không lựa chọn đào tạo trong ngành nghề đó và tập trung học trong những ngành nghề đang được tuyển dụng nhiều. Tuy nhiên, quá trình đào tạo thường phải mất một khoảng thời gian khá dài đủ để nền kinh tế thay đổi trạng thái. Khi những người lao động đó tốt nghiệp là lúc ngành nghề họ theo học không còn được tuyển dụng nhiều, trong khi đó những ngành nghề không được lựa chọn đào tạo lại bị thiếu hụt lao động do không có người tham gia. Bên cạnh yếu tố cầu, ở những nước gửi lao động cũng có động lực thúc đẩy dòng di chuyển lao động nội khối vận động.
Nguyên nhân để các quốc gia quan tâm tới việc đưa người lao động trong nước ra nước ngoài là: Thứ nhất, cung lớn hơn cầu trên thị trường lao động nội địa. Điều này thường xảy ra đối với các quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển, số lượng việc làm ở các khu vực sản xuất kinh doanh còn thấp trong khi dân số quá đông, số người trong độ tuổi lao động lớn làm dư thừa lao động trên phương diện tổng thể; Thứ hai, do những sai lầm trong lựa chọn đào tạo nghề. Với chiến lược phát triển nguồn nhân lực còn yếu kém, nền giáo dục đào tạo chưa phát triển dẫn đến tình trạng dư thừa người lao động trong một ngành nghề, lĩnh vực nào đó mà thiếu hụt, khan hiếm lao động ở ngành nghề khác; Thứ ba, do mức thu nhập, điều kiện làm việc trong một ngành nghề nào đó thấp dưới mức mong đợi của người lao động khiến họ không chịu cung ứng sức lao động và sẵn sàng tìm kiếm cơ hội làm việc ở nơi khác có mức lợi ích cao hơn 1. Nhân tố ảnh hưởng đến di chuyển lao động quốc tế 14 Từ những phân tích nguyên nhân dẫn đến di chuyển lao động quốc tế nêu trên, có thể rút ra được những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến di chuyển lao động.
Về mặt tổng quát, có hai nhân tố chính là nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài. Nhân tố bên trong Cung cầu thị trường lao động Thị trường lao động được hiểu là thị trường lao động quốc gia và thị trường lao động quốc tế. Sự dư thừa hay thiếu hụt lao động ở từng ngành hay toàn bộ thị trường đều ảnh hưởng gây lực kéo – đẩy mạnh đối với các quốc gia tham gia vào liên kết kinh tế quốc tế. Sự mất cân đối cung cầu trong thị trường lao động quốc gia càng lớn thì xu hướng di chuyển càng lớn.
Tuy nhiên, đặc điểm của thị trường lao động quốc gia mới chỉ ảnh hưởng tới dòng di chuyển lao động quốc tế nói chung. Chi phí di cư, chi phí cơ hội khi di chuyển lao động Chi phí di cư gồm có chi phí dành cho việc làm thủ tục hành chính để di chuyển sang nước khác, chi phí di chuyển, chi phí đảm bảo cuộc sống tại nước đó để thực hiện cung lao động và chi phí trở về. Chi phí này ở đâu càng thấp thì sẽ khiến cho người lao động càng có động lực di chuyển tới đó. Đây cũng là yếu tố thúc đẩy di chuyển lao động nội khối phát triển bởi đặc thù của một khối kinh tế luôn có sự hợp tác, liên kết cao giữa các nước thành viên làm giảm những chi phí về thủ tục hành chính cho sự di chuyển lao động.
Bên cạnh đó, các nước trong cùng một khối kinh tế thường là những nước láng giềng có khoảng cách địa lý ngắn nhất so với các nước khác trên thế giới nên việc di chuyển có thể thực hiện bằng nhiều phương thức vận chuyển khác nhau với chi phí thấp hơn. Đặc điểm nguồn nhân lực Trong một khối kinh tế, nếu có sự chênh lệch về trình độ phát triển, mức độ tăng trưởng kinh tế thì di chuyển lao động sẽ được đặc trưng rõ nét bởi các dòng di chuyển khác biệt về kỹ năng. Còn đối với khối kinh tế mà các quốc gia thành viên có sự tương đồng về tăng trưởng kinh tế thì thường dòng di chuyển lao động sẽ đặc trưng bởi sự khác biệt về ngành nghề do chuyên môn hóa lao động 15 nội khối quy định. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn thấp ở các thị trường lao động đều giảm khiến cho dòng di chuyển lao động này cũng dần ít đi thay bằng những dòng di chuyển lao động được đào tạo và dòng di chuyển lao động chuyên môn cao đang trở nên ngày càng nhiều hơn ở tất cả các quốc gia.
Chính sách thúc đẩy xuất khẩu, thu hút nhập khẩu lao động Mỗi quốc gia đều có chính sách khác nhau về xuất nhập khẩu lao động. Ngay trong cùng một khối kinh tế thì điều này vẫn xảy ra dù tồn tại cộng đồng kinh tế. Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu và thu hút nhập khẩu lao động được xây dựng dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị quốc gia, quan điểm, định hướng phát triển đất nước, đặc điểm của thị trường lao động quốc gia và những cam kết về di chuyển lao động với các nước khác. Ngược lại, những chính sách về xuất nhập khẩu lao động của một quốc gia lại ảnh hưởng tới mức độ tham gia di chuyển lao động của nước đó.
Nhân tố bên ngoài Toàn cầu hóa Toàn cầu hóa đặt các nước vào mối quan hệ kinh tế quốc tế trên cơ sở hợp tác cùng có lợi. Từ đó, những quan hệ di chuyển hàng hóa, dịch vụ và các nguồn lực được hình thành. Toàn cầu hóa có ảnh hưởng rất lớn tới chiến lược và chính sách di chuyển lao động quốc tế của các quốc gia trên thế giới, tiến tới xây dựng những thể chế, cách thức quản lý và hợp tác lao động. Sự hình thành khu vực kinh tế Sự hình thành và phát triển của các khu vực kinh tế sẽ hình thành các liên kết kinh tế khu vực ở những mức độ khác nhau.
Ở mức độ càng cao, các mối quan hệ kinh tế quốc tế càng trở nên gần gũi, điển hình bằng sự tự do hóa di chuyển hàng hóa, nguồn lực và hình thành các thị trường chung. Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ khiến các quốc gia trong một khu vực kinh tế xem xét và xác định mức độ tham gia vào di chuyển lao động nội khối của mình. Đặc điểm thị trường lao động của khu vực 16 Trong một khu vực kinh tế, cung – cầu thị trường lao động của các nước thành viên sẽ ảnh hưởng lớn tới quyết định tham gia vào di chuyển lao động trong nội khối chỉ khi người lao động mất ít chi phí hơn so với các cơ hội khác ngoài khối, trong khi vẫn đạt được những mong muốn cần thiết. Bên cạnh đó, sự tồn tại của thị trường lao động chung khu vực cũng có sức ảnh hưởng mạnh, tạo ra những dòng di chuyển giữa các quốc gia thành viên.
Các điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển, những thiết lập về phân công lao động trong khối kinh tế và sự khác biệt về cung và cầu lao động giữa các quốc gia sẽ thúc đẩy mức độ tham gia vào di chuyển lao động nội khối của các nước thành viên. Sự chênh lệch thu nhập, mức sống và điều kiện làm việc Mức sống và chất lượng cuộc sống cũng ảnh hưởng tới di chuyển lao động quốc tế nói chung. Con người luôn mong muốn được nâng cao mức sống và được hưởng chất lượng cuộc sống tốt hơn. Vì vậy, tại quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mức sống thấp, thu nhập được xác định trên thị trường không đủ cải thiện chất lượng cuộc sống thì người lao động có xu hướng muốn di chuyển tới những thị trường lao động khác với thu nhập và điều kiện sống cao hơn.
Mức sống liên quan đến sự phát triển, thỏa mãn nhu cầu của con người về các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường… Trình độ phát triển của các quốc gia Trình độ phát triển của các quốc gia ảnh hưởng nhiều tới sự tham gia vào di chuyển lao động nội khối ở mọi khía cạnh từ quy mô, cơ cấu lao động tới hình thức di chuyển, sự hợp tác giữa các nước và quản lý lao động di chuyển. Với trình độ phát triển cao trong toàn khối, mức lương trung bình nội khối cao tương đối so với ngoại khối thì di chuyển lao động nội khối có xu hướng được đẩy mạnh.