CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu về kinh doanh ngoại hối 1. Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài Ở nước ngoài hoạt động KDNH là một hoạt động mang lại khá nhiều lợi nhuận và đã được thực hiện từ rất lâu. Do vậy, cũng đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này.
Ngoài những giáo trình và đề tài nghiên cứu chung về hoạt động này (bao gồm những khái niệm, các nghiệp vụ của KDNH) có thể nhận thấy, đối với các ngân hàng tại nước ngoài, do tính phức tạp trong các nghiệp vụ thực hiện hoạt động KDNH, việc kiểm soát rủi ro được các nhà quản trị quan tâm nhiều hơn. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu đi khá sâu về việc quản trị rủi ro trong hoạt động KDNH, có thể kể đến một số đề tài như: “Foreign exchange risk management in commercial bank in Pakistan” của tác giả Maroof Hussain năm 2010 tại trường The University of Lahore, đề tài “Management of Foreign exchange risk in selected commercial bank, in Nigeria” của nhóm tác giả J. Dionco Adetayo và B. Oladejo năm 2008 tại trường Obafemi Awolowo University, đề tài “The management of Foreign Exchange Risk in UK multinationals: An empirical Investigation” của tác giả P.
Glaum năm 2012, đề tài “The management of Foreign Exchange Risk” của hai giáo sư By Ian H. Giddy và Gunter Dufey thuộc trường đại học New York University and University of Michigan năm 2009. Trong hầu hết các đề tài kể trên, các tác giả đã chủ yếu đi sâu vào phân tích: rủi ro KDNH là gì? Các nhân tố tác động đến rủi ro trong KDNH của các định chế tài chính và phi tài chính? Các chỉ tiêu đo lường rủi ro trong KDNH và từ đó đưa ra một số biện pháp quản lý rủi ro? Một số phân tích tiêu biểu về phát triển KDNH cóthể kể đến như: “Efficiency of foreign markets and measures of turbulence”của hai tác giả Jacob A. Frenkel và Michael L.
Mussa năm 1980, đề tài“Foreign exchange market efficiency 5 z tests: Implications of recent empiricalfindings” của Paul Boothe làm việc tại Department of Economics, Universityof Alberta, Edmonton, Alberta, Canada và David Longworth làmviệc tại Bank of Canada năm 1986. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Từ trước đến nay cũng đã có khá nhiều đề tài trong nước nghiên cứu về hoạt động kinh doanh ngoại hối, hoặc kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, các đề tài này tập trung chủ yếu vào việc phát triển hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại hối tại một ngân hàng thương mại. Có thể kể đến công trình của một số tác giả như: - Luận văn thạc sỹ “Phát triển kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Nha Trang” của tác giả Đỗ Thị Hòa năm 2013 tại Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển kinh doanh ngoại tệ và rút ra được các kinh nghiệm phát triển kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng ở Việt Nam.
Từ việc đánh giá thực trạng phát triển kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Nha Trang giai đoạn 2010-2012 tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh doanh ngoại tệ tại Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Nha Trang trong thời gian tới. Ngân hàng TMCP Ngoại Thương là ngân hàng hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối nên có nhiều ưu điểm cho VPBank học hỏi kinh nghiệm. - Luận văn thạc sỹ kinh tế của Đào Hữu Thành về “Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” tại trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân năm 2010. Trong luận văn này, tác giả đã nêu được những khái niệm cơ bản về KDNH đồng thời cũng đi sâu phân tích các tiêu chí đánh giá hiệu quả KDNH và đưa ra một số giải pháp, tuy nhiên khi phân tích về các đối tượng tham gia vào thị trường hối đoái thì tác giả đã không đề cập đến các cá nhân mà chỉ đề cập đến các tổ chức tài chính: Ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, các công ty và định chế tài chính phi ngân hàng, các nhà môi giới (broker).
Việt Nam là một nước có lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ, hàng năm Việt Nam thu về hàng tỷ USD kiều hối (Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài cho biết kiều hối năm 2013 6 z đạt con số ấn tượng 11 tỷ USD), thì các cá nhân cũng là một đối tượng tham gia trên thị trường hối đoái. Mặt khác, với trình độ phát triển ngày càng nâng cao, các cá nhân đã dần dần có thể trực tiếp tham gia vào kinh doanh ngoại tệ như tham gia kinh doanh ngoại tệ qua mạng như giao dịch Forex… - Luận văn thạc sỹ “Quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ của Ngân Hàng TMCP Hàng Hải” của tác giả Nguyễn Thanh Hải năm 2012 tại Đại học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu, đánh giá tình hình quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh ngoại hối hiện tạicủa Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam; Nhận diện các rủi ro kinh doanh ngoại hối mà Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đã và đang đối mặt; Đưa ra được các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát rủi ro kinh doanh ngoại tệ áp dụng hiệu quả tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam và có thể áp dụng được trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam. - Luận án tiến sĩ “Quản lý rủi ro trong KDNH của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Bùi Quan Tín năm 2013 tại trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài đã xác định được những nguyên nhân của tồn tại trong quản lý rủi ro ngoại hối của các NH TMCP và từ đó đề ra các giải pháp để hạn chế rủi ro trong KDNH tại các NH TMCP nói chung và các NHTMCP trên địa bàn TP. Ngoài ra, đề tài còn kiến nghị những biện pháp nhằm hỗ trợ cho sự phát triển hoạt động KDNH và quản lý rủi ro trong KDNH. Như vậy có thể thấy đã có một số công trình nghiên cứu về việc phát triển hoạt động KDNH nhưng chưa có công trình đồng cấp nào nghiên cứu về phát triển hoạt động KDNH tại VPBank. Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo và kế thừa ý tưởng của các công trình luận văn trước để phục vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận chung cũng như khi đề xuất kiến nghị và giải pháp để phát triển kinh doanh ngoại hối của ngân hàng VPBank.
Cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh ngoại hối của NHTM 1. Các khái niệm liên quan đến thị trường ngoại hối 1. Khái niệm ngoại hối Khái niệm ngoại hối được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, khái niệm ngoại hối được đề cập trong khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Ngoại hối bao gồm: - Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
- Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ như séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác. - Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác. - Vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia, vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. - Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Như vậy, ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn để chi trả. Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ. Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trong thực tế, người ta chủ yếu giao dịch mua bán ngoại tệ.
Trong luận văn này, ngoại hối và thị trường ngoại hối cũng được hiểu và sử dụng theo nghĩa thực tế nêu trên, nghĩa là: - Ngoại hối trùng với ngoại tệ - Thị trường ngoại hối trùng với thị trường ngoại tệ. Thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối – The Foreign Exchange Market (được viết tắt là FOREX hay FX) là nơi thực hiện việc trao đổi mua bán các ngoại tệ và các phương tiện chi trả có giá trị bằng ngoại tệ để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể kinh tế mà giá cả ngoại tệ được xác định trên cơ sở cung cầu ngoại tệ. Thị trường hối đoái bao gồm những yếu tố cơ bản: Cung cầu và giá cả. Giá cả trên thị trường ngoại hối chính là tỷ giá.
Tỷ giá hối đoái của ngoại tệ do cung, cầu trên thị trường ngoại hối quyết định. Thị trường ngoại hối cho phép các đồng tiền được chuyển đổi nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho hoạt động thương mại quốc tế hoặc các giao dịch tài chính. Một cách khái quát hơn "Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau". (Nguyễn Văn Tiến, 2010) Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch), nên theo nghĩa hẹp thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng, tức là thị trường Interbank.
Thị trường ngoại hối hình thành và phát triển gắn liền với nhu cầu phát triển trong mối quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia trên lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, hoạt động đầu tư, tín dụng, thanh toán và lĩnh vực văn hóa xã hội… Hoạt động trên thị trường ngoại hối luôn phát triển và rất sôi động, hoạt động liên tục trong 24/24 giờ trong ngày. Các chức năng của thị trường ngoại hối: - Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là cung cấp dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.