mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, trong đó, phần nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng sau: CHƢƠNG 1. Những yếu tố tác động đến quan hệ thƣơng mại và đầu tƣ của Trung Quốc với ASEAN từ năm 2012 đến nay. CHƢƠNG 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại và đầu tƣ của Trung Quốc với ASEAN từ năm 2012 đến nay. CHƢƠNG 3: Đánh giá và triển vọng hợp tác thƣơng mại và đầu tƣ của Trung Quốc – ASEAN 8 z NỘI DUNG Chƣơng 1.
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƢ CỦA TRUNG QUỐC VỚI ASEAN TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY 1.1 Xu thế khu vực hóa tăng nhanh quá trình hình thành ASEAN Trong bối cảnh phát triển phức tạp của quan hệ quốc tế vào những năm 60-70 của thế kỷ trƣớc, chủ nghĩa khu vực đã hình thành và nhanh chóng phát triển. Trong thời kỳ hòa hoãn của Chiến tranh Lạnh (1962-1978), nhiều tổ chức khu vực đã xuất hiện nhƣ Liên đoàn Ả Rập (1950), Tổ chức các nƣớc Trung Mỹ OCAS (1951), Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC(1957),Tổ chức thống nhất Châu Phi – OAU (1963).Ở khu vực Đông Nam Á (ĐNA) cũng xuất hiện Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) vào năm 1961 bao gồm Malaysia, Philippine, Thái Lan, Nam Việt Nam, rồi Maphilindo (1963) với Malaysia, Philippine, Indonesia, nhƣng các tổ chức này đều không tồn tại lâu dài. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đƣợc thành lập ngày 8/8/1967 phản ánh nguyện vọng của 5 nƣớc Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thailand và Philippines) với mong muốn hình thành một tổ chức khu vực vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển. Mă ̣t khác , đây cũng chin ́ h là kế t quả của th ời kỳ Chiế n tranh La ̣nh.
Khi trâ ̣t tƣ̣ hai cƣ̣c đƣơ ̣c hin ̀ h thành, cả Liên Xô và Mỹ đều muốn ảnh hƣởng của mình ở khu vực ĐNA hiện diện một cách mạnh mẽ. Khu vực này trở thành khu vực hết sức nhạy cảm bởi sự can thiệp từ bên ngoài, sự lôi kéo của các nƣớc lớn vì lợi ích và an ninh của họ và cuộc đấu tranh giữa các tƣ tƣởng dân tộc chủ nghĩa. Mỗi quố c gia đề u muố n ta ̣o mô ̣t khoảng cách an toàn cho mình để không bị kéo sâu vào cuộc chiến tranh hai c ực cũng nhƣ tránh không đ ể cho phong trào giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ ở khu vực này thành các cuộc nội chiến. ASEAN ra đời nhƣ là mô ̣t xu thế chung – xu thế t ất yếu khu vƣ̣c hóa của thời đa ̣i.
Sau khi Chiế n tranh La ̣nh kế t thúc , các quốc gia ở ĐNA dầ n nhâ ̣n thấ y sƣ̣ khác 9 z biê ̣t về ý thƣ́c hê ̣ và về chế đô ̣ chin ́ h tri ̣không còn là yếu tố gây trở ngại cho tiến trình xây dựng một tổ chức khu vực nữa. Kết thúc chiến tranh campuchia lần 3 (chiến tranh Campuchia), tổ chức này bắt tay thực hiện chƣơng trình hợp tác kinh tế, nhƣng gặp phải khó khăn vào giữa thập niên 80 để rồi đƣợc hồi sinh vào đầu thập niên 90 với lời đề nghị của Thái Lan về một ― khu vực thƣơng mại tự do‖. Năm 1984 Brunei gia nhập ASEAN, tiếp theo là Việt Nam vào năm 1995, Lào và Myanmar năm 1997, và Campuchia năm 1999. Với chặng đƣờng gần 45 năm xây dựng và phát triển, ASEAN từ Hiệp hội của các nƣớc nghèo, chậm phát triển đã vƣơn lên thành khu vực phát triển kinh tế năng động với dân số gần 600 triệu ngƣời, diện tích 4,5 triệu km2, quy mô GDP đạt gần 900 tỷ USD và tổng giá trị thƣơng mại khoảng 800 tỷ USD.
Các nƣớc ASEAN có vị trí chiến lƣợc quan trọng, nằm ở phía Đông Nam lục địa Á-Âu, tiếp giáp giữa Thái Bình Dƣơng và Ấn Độ Dƣơng, nằm trên con đƣờng hàng hải huyết mạch nối liền châu Á với châu Âu bởi eo biển Malacca, do vậy, ASEAN giữ vai trò quan trọng trong quân sự và thƣơng mại cũng nhƣ trong phát triển kinh tế, trao đổi và hợp tác thƣơng mại với nhiều nƣớc, đặc biệt với Trung Quốc. Theo thống kê, 1/3 khối lƣợng hàng hoá và 50% dầu thô trên thế giới phải vận chuyển qua eo biển Malắcca, hiện nay trên 80% lƣợng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải vận chuyển qua eo biển này. Theo ƣớc tính, có khoảng 60% số tàu của Trung Quốc trong tổng số tàu đi qua eo biển Malacca một ngày. Bên cạnh đó, ASEAN còn là nơi có nguồn năng lƣợng dồi dào, có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế.
Nghiên cứu viên Lƣu Lập Thọ thuộc Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế, Đại học Nam Kinh cho rằng, với tƣ cách là những nƣớc láng giềng, do vị trí chiến lƣợc, các nƣớc ASEAN là nơi cung cấp năng lƣợng quan trọng của Trung Quốc và là những đối tác hợp tác quan trọng trong thị trƣờng năng lƣợng quốc tế nên những nƣớc này chiếm vị trí hết sức quan trọng trong chiến lƣợc năng lƣợng của Trung 10 z Quốc. Hiện nay, Việt Nam là nƣớc sản xuất than lớn thứ 3 và là nƣớc xuất khẩu than không khói lớn thứ hai thế giới; Indonesia là nƣớc sản xuất than đá lớn nhất Đông Nam Á, cũng là nƣớc xuất khẩu than đá lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Ôxtrâylia,đồng thời là nƣớc sản xuất khí đốt tự nhiên lớn thứ 6 và là nƣớc xuất khẩu khí đốt hoá lỏng lớn nhất thế giới, Brunei là nƣớc sản xuất khí đốt hoá lỏng lớn thứ tƣ thế giới. Đông Nam Á cũng là nguồn nhập khẩu dầu thô quan trọng của Trung Quốc, hiện Trung Quốc nhập khẩu 15% lƣợng dầu thô từ các nƣớc Đông Nam Á, trƣớc đây, Trung Quốc nhập khẩu dầu thô nhiều nhất từIndonesianhƣng trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành nhà xuất khẩu dầu thô lớn nhất ở Đông Nam Á cho Trung Quốc và lớn thứ 6 trên thế giới. Ngoài dầu thô, Trung Quốc còn tăng cƣờng nhập khẩu khí đốt tự nhiên và than đá của các nƣớc Đông Nam Á.
Hiện nay, Việt Nam là thị trƣờng nhập khẩu than đá chủ yếu của Trung Quốc ở Đông Nam Á, năm 2005, Việt Nam đã xuất sang Trung Quốc khoảng 9 triệu tấn than. Inđônêxia đồng ý trong vòng 25 năm tới sẽ cung cấp cho Trung Quốc 2,6 triệu tấn khí đốt hoá lỏng mỗi năm.[6,tr:3] Tóm lại, với vị trí địa lý gần gũi với Trung Quốc, lại có vị trí địa chiến lƣợc biển quan trọng, nguồn tài nguyên năng lƣợng dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú và các chính sách mở cửa rộng rãi, ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cũng nhƣ duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế Trung Quốc nói chung và nền kinh tế đối ngoại nói riêng.2 Kinh tế toàn cầu hóa thúc đẩy quá trình hình thành quan hệ thƣơng mại và đầu tƣ Trung Quốc với ASEAN 1. Quá trình hình thành quan hệ thương mại và đầu tư Trung Quốc với ASEAN là yêu cầu phát triển kinh tế của hai bên Từ những năm 1980 và đặc biệt là sau khi Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) ra đời năm 1995, làn sóng hội nhập kinh tế khu vực lại bùng phát với nhiều biểu hiện mới về quy mô, mức độ và phạm vi địa lý. Riêng khu vực Đông Á (bao 11 z gồm Đông Nam Á và Đông Bắc Á) từ chỗ bị đánh giá là khoảng trống của liên kết khu vực, ―chậm chân‖ trong làn sóng hội nhập kinh tế khu vực so với Tây Âu và Bắc Mỹ vào những năm 1970 - 1980 thì trong những năm đầu của thập kỷ 1990 đã có những chuyển biến khá mạnh theo hƣớng tăng cƣờng liên kết kinh tế khu vực với hàng loạt thoả thuận thƣơng mại tự do khu vực và song phƣơng ra đời hoặc đang trong quá trình đàm phán mà đặc biệt chuẩn bị cho việc hình thành cộng đồng kinh tế toàn khu vực - Cộng đồng kinh tế Đông Á (EAEC).
Trƣớc cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998, nhiều quan điểm đã cho rằng ASEAN sẽ thu mình lại và dựng lên ―bức tƣờng‖ bảo hộ mậu dịch. Song trái lại, ASEAN không những đẩy mạnh hơn tiến trình tự do hóa thƣơng mại nội khối mà còn tích cực mở rộng liên kết kinh tế - thƣơng mại ở Đông Á với việc hình thành mạng lƣới các Khu vực mậu dịch tự do với các đối tác quan trọng ở khu vực (FTA + 1) nhƣ: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand; đồng thời tích cực thúc đẩy nhiều chƣơng trình hợp tác kinh tế, thƣơng mại đa dạng với các đối tác lớn nhƣ Mỹ, Canada, liên minh Châu Âu (EU), Nga. Mặc dù, mục tiêu hiện thực hóa ACFTA vào năm 2010 đối với Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Trung Quốc, và vào năm 2015 đối với Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam chƣa trở thành hiện thực, nhƣng các nội dung hợp tác kinh tế, thƣơng mại giữa các bên liên quan đã và đang đƣợc triển khai tích cực. Chính vì vậy, giữa những gam màu ảm đạm của bức tranh kinh tế thế giới, ASEAN nổi lên nhƣ một điểm sáng, vẫn duy trì mức tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trung bình là 5% - 6% kể cả trong thời kỳ khó khăn trong những năm 2011 - 2012, 12 z và cũng chính sự đồng thuận cao trong việc kết nối giữa ASEAN với khu vực Đông Bắc Á đã có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho tiến trình hội nhập và xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời đảm bảo vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực năng động đang hình thành.
Hiện Trung Quốc là đối tác thƣơng mại lớn thứ 4 của ASEAN sau Liên minh châu Âu (11,5%), Nhật Bản (13,7%) và Mỹ (14%). Thị phần của Trung Quốc trong giao dịch thƣơng mại với ASEAN tăng từ 2,1% năm 1994 lên 7% năm 2003. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu còn tăng trƣởng cao hơn nữa với việc thực hiện Chƣơng trình ―thu hoạch sớm‖ của Khu vực mậu dịch tự do ACFTA trong tháng 1/2004, cũng nhƣ thực hiện kế hoạch cắt giảm thuế quan theo hiệp định thƣơng mại hàng hóa đƣợc ký kết giữa năm 2005. Tháng 7/2004, tổng giá trị trao đổi mậu dịch các sản phẩm của Chƣơng trình ―thu hoạch sớm‖ giữa ASEAN và Trung Quốc đạt 1,11 tỷ USD, tăng 42,3% so với cùng kỳ năm 2003, các nƣớc ASEAN xuất khẩu sang Trung Quốc là 0,68 tỷ USD, tăng 49,8% so với cùng thời kỳ.
ASEAN là bạn hàng lớn thứ năm của Trung Quốc liên tục 12 năm qua.