Chương 1: Cơ sở của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây Chương 2: Sự tiến triển của các lĩnh vực hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) Chương 3: Một số nhận xét về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010). 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ CỦA HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƢỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY 1. Một số cơ sở lý thuyết về quan hệ kinh tế quốc tế 1. Khái niệm về hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực Hợp tác kinh tế khu vực là quá trình thông qua đó hai hay nhiều nước theo đuổi mục đích hoặc mục tiêu phát triển chung thông qua các hoạt động chung, phối hợp chung và đồng bộ.
Hợp tác kinh tế vùng nói chung bao gồm các hoạt động hợp tác theo từng nội dung cụ thể với các chương trình và dự án hợp tác kinh tế trong vùng. Hội nhập kinh tế khu vực là quá trình các nước trong khu vực thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá thương mại, đầu tư; các nền kinh tế khu vực được kết nối với nhau một cách chặt chẽ thông qua di chuyển các nguồn lực [59, tr8]. Hội nhập bao gồm 5 cấp độ: Khu vực thương mại ưu đãi (có chính sách thuế quan ưu đãi một phần cho nhau); Khu vực thương mại tự do (các thành viên dỡ bỏ tất cả các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với nhau); Liên minh thuế quan (các khu vực thương mại tự do mà các thành viên áp dụng chung chính sách thuế quan đối với các nước không phải thành viên); Thị trường chung (tự do hóa dòng hàng hóa và các yếu tố sản xuất) và Liên minh kinh tế (thị trường chung với các chính sách hài hòa cao kết hợp với các thể chế chung toàn khu vực để điều phối và thực hiện các biện pháp chính sách kinh tế và hội nhập. Trong quá trình phát triển, bên cạnh hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực còn có xu thế hội nhập kinh tế tiểu vùng.
Hội nhập tiểu vùng không mâu thuẫn với hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực mà đây thực chất là một khâu trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực. Hội nhập tiểu vùng giúp bổ sung những gì còn thiếu, giúp giải quyết những gì mà hội nhập toàn cầu và khu vực chưa làm được. Hội nhập toàn cầu và khu vực là xu thế hiện thực khách quan, là quá trình mà hầu hết các khu vực, tiểu khu vực và các quốc gia trên thế giới đều tham gia. Do vậy, các nước GMS nói chung và EWEC nói riêng cần phải chủ động hội nhập toàn cầu và khu vực nhằm tận dụng các cơ hội to lớn để phát triển.
Lý thuyết về lợi thế so sánh Lợi thế so sánh là lợi thế có thể đạt được của mỗi nền kinh tế quốc gia thông qua sự phân công lao động quốc tế khi mà mỗi quốc gia biết lựa chọn mặt hàng có lợi ích nhiều hơn hoặc bất lợi ít hơn so với chi phí trung bình quốc tế để tập trung vào sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu chúng. Trong trường hợp này, người ta so sánh mức chi phí ở từng quốc gia theo từng mặt hàng đối với mức chi phí trung bình quốc tế rồi sau đó so sánh các hệ số đó với nhau để tìm ra sản phẩm nào có lợi thế so sánh. Theo lý thuyết này, các quốc gia có thể chuyên môn hóa và xuất khẩu sản phẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác, nhưng lại có lợi thế tuyệt đối hơn giữa hai sản phẩm và nhập khẩu những sản phẩm mà lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn giữa hai sản phẩm trong nước [158, tr15]. Lý thuyết về lợi thế so sánh là lý thuyết đặc biệt quan trọng với các nước EWEC.
Các nước này tuy có những nét tương đồng song cũng có nhiều nét đặc thù riêng về địa hình, đất đai, tài nguyên, điều kiện khí hậu, văn hóa, xã hội và lịch sử. do vậy, mỗi nước EWEC đều có những lợi thế so sánh riêng. Thực tế cho thấy, các nước EWEC là các nước nghèo nhưng có nhiều lợi thế so sánh như: nhân công rẻ, tài nguyên phong phú, chi phí sản xuất thấp, văn hóa đa dạng, lịch sử lâu đời, đa dạng sinh thái. Đó chính là những lợi thế so sánh mà các nước EWEC cần phát huy để phát triển kinh tế của mình.
Hợp tác kinh tế EWEC có vai trò quan trọng tạo ra sự hợp tác sâu, rộng, đa dạng và cũng tạo ra thị trường rộng lớn hơn, ít rào cản hơn, điều kiện tốt cho sự phát triển của các nước dọc theo EWEC. Các nước EWEC muốn tối đa hóa hiệu quả hợp tác EWEC thì phải vận dụng cơ sở của lý thuyết này để phát huy lợi thế so sánh của chính mình và của EWEC trong sản xuất, kinh doanh, thương mại và đầu tư góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội cho từng nước và cho cả EWEC. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia của Michael E. Porter là một lý thuyết mới về lợi thế cạnh tranh quốc gia.Lý thuyết chứa đựng quan điểm mới về lợi thế cạnh tranh quốc gia, giúp giải thích tại sao nhiều quốc gia thành công, nhiều công ty thành công trong một số ngành của nền kinh tế.
Quan niệm và ý tưởng của lý thuyết này có thể áp dụng cho các đơn vị, tổ chức hay lãnh thổ trong một quốc 16 gia. Lý thuyết này nhấn mạnh Chính sách của Chính phủ ở cấp quốc gia hay ở cấp địa phương chiếm vai trò quan trọng trong việc hình thành lợi thế của quốc gia đó [59, tr13]. Các nước GMS nói chung và EWEC nói riêng phải vận dụng lý thuyết này để hình thành các chính sách nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty, của quốc gia và của cả EWEC hoặc GMS. Thuyết tự do thƣơng mại Nội dung chính của lý thuyết này đề cập tới ý tưởng: Để cho thị trường vận hành theo cơ chế cạnh tranh tự do, nhà nước không can thiệp và có như vậy nền kinh tế mới có hiệu quả thực sự.
Thương mại quốc tế được hoạt động trong một hệ thống thương mại tự do không có hàng rào thuế quan, mỗi nước sẽ dành vốn và nguồn lực của mình vào việc sản xuất những mặt hàng có lợi thế hơn so với các nước khác. Điều này sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia và sản xuất liên kết các nền kinh tế quốc gia với nhau dựa trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hoá [59, tr14]. Các nước GMS nói chung và EWEC nói riêng phải vận dụng lý thuyết này để hình thành các chính sách giảm bớt rào cản, tăng cường tự do hóa thương mại, thúc đẩy tăng trưởng, huy động vốn, công nghệ và kỹ thuật từ bên ngoài để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước thành viên. Thuyết bảo hộ mậu dịch Thuyết bảo hộ mậu dịch chủ trương nhà nước áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ thị trường trong nước và hạn chế sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài nhằm hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước.
Bảo hộ mậu dịch là kết quả của sự phát triển không đồng đều của nền kinh tế giữa các nước, của sự cạnh tranh trên thị trường và quốc tế ngày càng gay gắt và việc nhà nước can thiệp vào kinh tế. Thuyết bảo hộ mậu dịch là cơ sở tư tưởng cho chính sách kinh tế mà nhiều nước đã và đang áp dụng. Ngay cả với các nước công nghiệp phát triển, lý thuyết này vẫn được vận dụng cùng với việc đặt ra hàng rào bảo hộ, các biện pháp thuế quan, phi thuế quan rất tinh vi [59, tr15]. Các nước GMS nói chung và EWEC nói riêng phải vận dụng lý thuyết này để hình thành các chính sách bảo hộ lợi ích hợp lý của các nước thành viên khi bản thân các nền kinh tế này còn nghèo nàn, lạc hậu và dễ bị các nước phát triển gây áp lực trong cạnh tranh không cân sức giữa các nước nghèo với các nước giàu.
Khái niệm “hành lang kinh tế” Để hiểu khái niệm hành lang kinh tế Đông Tây, trước hết chúng ta phải hiểu khái niệm “hành lang kinh tế”. Khái niệm hành lang kinh tế không phải là khái niệm mới trên thế giới. Trước khi Ngân hàng phát triển Châu Á đưa ra khái niệm này như là một sáng kiến để thúc đẩy hợp tác kinh tế ở tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, người ta đã biết đến nhiều hành lang kinh tế ở Mỹ, Châu Âu, Châu Phi. như là một cách tiếp cận phát triển ở những khu vực địa lý liền kề, lấy các trục tuyến giao thông làm cơ sở để kết nối các vùng nhằm xây dựng các khuôn khổ hợp tác về phát triển kinh tế - xã hội.
Ví dụ, theo hệ thống phát triển đường cao tốc Appalachian ở West Virginia (Mỹ) người ta xây dựng 26 hành lang kinh tế của khu vực Appalachian [143, tr3]. Để hiểu khái niệm hành lang kinh tế cần hiểu sơ qua các cơ chế hợp tác khu vực. Có hai cơ chế hợp tác kinh tế khu vực chủ yếu: chính thức và không chính thức. Cơ chế chính thức bao gồm các hình thức như Khu vực mậu dịch tự do (AFTA), Liên minh thuế quan (kiểu liên minh Nga - Belarus.), Thị trường chung (kiểu EU).
Cơ chế phi chính thức gồm các hình thức như Tam giác phát triển, Khu vực tự do xuyên quốc gia, hành lang kinh tế. Trong đó cơ chế không chính thức có một số đặc thù như chỉ bao gồm các vùng (địa phương) thuộc các nước khác nhau chứ không bao gồm thực thể quốc gia; các thành viên duy trì quan hệ thương mại và đầu tư với thị trường bên ngoài khu vực; không có những chính sách chung đồng nhất, nhưng gián tiếp cắt giảm các biện pháp thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự do hoá thương mại, đầu tư, giao thông, nhập cư; thúc đẩy sự phát triển tại khu vực biên giới của các nước thành viên. Ở khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, khái niệm hành lang kinh tế được đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ VIII các Bộ trưởng GMS tổ chức tại trụ sở ADB, Manila tháng 10/1998.