Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề cơ bản về Khu kinh tế 1.1 Khái niệm KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. KKT được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế.
Theo quy định, KKT có quy mô diện tích từ 10.000 ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp của khu kinh tế. Thực tế cho thấy hiện nay ở Việt Nam các KKT chủ yếu nằm ở ven biển, cách xa các trung tâm đô thị, nên được gọi là KKT ven biển để phân biệt với KKT cửa khẩu ở Việt Nam [1]. Một số đặc trưng cơ bản của khu kinh tế KKT thường là KKT tổng hợp hay KKT chuyên ngành gắn với cảng biển hoặc một hải đảo có tiềm năng kinh tế lớn, có những đặc trưng như sau: -Các KKT đều được thành lập theo Quyết định của Nhà nước với một số mục tiêu rõ ràng. Thông thường Quốc hội là cơ quan quyết định thành lập các KKT vì các quy định pháp luật liên quan đến KKT thường có những điểm khác biệt, thậm chí một số trường hợp cá biệt có thể vượt lên trên quy định pháp luật hiện hành tại các vùng khác trong nội địa.
- Việc quản lý các KKT có thể thực hiện bởi chính quyền trung ương hoặc chính quyền địa phương, hoặc chính quyền khu. Cơ quan quản lý KKT thường được giao, phân cấp một số quyền hạn nhất định trong điều hành kinh tế và có tính độc lập tương đối; ở một số nước chính quyền quản lý khu còn có quyền ban hành một số chính sách xã hội và quản lý hành chính khu hoặc trong một số trường hợp đặc biệt chính quyền quản lý KKT được trao quyền lập pháp trên một số lĩnh vực nhất định. - Các KKT được đặt ở các vị trí địa lý thuận lợi cho việc hoạt động sản xuất - kinh doanh, giao lưu thương mại quốc tế và các khu vực kinh tế khác trong nước. Những vị trí này thường hội đủ các điều kiện địa lý thuận lợi như gần bến cảng, sân bay và có đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt nối với các địa phương khác.
Quy mô diện tích của KKT phụ thuộc vào điều kiện địa lý của địa bàn xây dựng KKT và mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của nước chủ nhà. Nhằm giới hạn phạm vi ảnh PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 hưởng của các chính sách đặc biệt áp dụng trong KKT, ngăn chặn các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và các hoạt động phi pháp khác, các KKT phải có phạm vi và không gian kinh tế riêng biệt, ngăn cách với các vùng lãnh thổ nội địa. - Các KKT được ưu tiên đầu tư một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ, nhằm mục tiêu thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước, đảm bảo các điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của các nhà đầu tư. Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KKT được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng trong giai đoạn đầu nguồn vốn NSNN giữ vai trò hết sức quan trọng.
- Hoạt động trong KKT có tính hướng ngoại cao, chú trọng phát triển sản xuất phục vụ xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy các hoạt động thương mại giữa khu vực với các vùng nội địa khác, được xem là “cầu nối” giúp nước sở tại phát triển kinh tế với bên ngoài. - Môi trường pháp luật kinh tế trong KKT được xây dựng trên cở sở khuôn khổ pháp lý chung của cả nước, nhưng có tính tự do và thông thoáng cao hơn nhiều so với khu vực nội địa. Các ưu đãi đầu tư áp dụng trong KKT rất đa dạng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực như thuế, đất đai, hành chính, lao động, ngoại hối.Chính sách áp dụng cho khu phi thuế quan thuộc KKT có chế độ mậu dịch và thuế quan riêng theo phương thức tự do, trong đó các giao dịch kinh tế thương mại giữa các tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan với vùng lãnh thổ còn lại của Việt Nam được coi là giao dịch giữa nước ngoài với trong nước, phải tuân theo các quy định pháp luật hiện hành của nước sở tại về quản lý hàng hoá xuất, nhập khẩu; các giao dịch kinh tế thương mại giữa các tổ chức cá nhân trong khu phi thuế quan đó với các nước và vùng lãnh thổ nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam được coi là giao dịch giữa nước ngoài với nước ngoài. Trong khu phi thuế quan hàng hoá xuất nhập khẩu không phải chịu thuế xuất nhập khẩu, nhưng các hàng hoá, vật tư nhập vào thị trường nội địa phải chịu thuế nhập khẩu của nước sở tại.
- KKT là nơi áp dụng các cơ chế, chính sách mới ưu đãi, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, phù hợp với thông lệ quốc tế để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Vai trò của khu kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Các nước nói chung, nhất là các nước đang phát triển thì thường có các nguồn tài nguyên chưa được khai thác, lao động rẻ, nhưng thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ lạc hậu. Phát triển rộng khắp thì chưa đủ lực, nên phải có trọng tâm, trọng điểm, phải có đặc thù để thí điểm thu hút đầu tư. Các KKT đóng góp vai trò tích cực vào việc tăng vốn đầu tư để đạt sự tăng trưởng kinh tế và được coi là một nền công nghiệp thu nhỏ.
Các đặc khu kinh tế Trung Quốc là một điển hình, rất thành công trong lĩnh vực thu hút đầu tư. Một trong những khó khăn lớn nhất của Trung Quốc khi tiến hành công PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 cuộc cải cách mở cửa là thiếu vốn và công nghệ sản xuất tiên tiến. Với ưu thế của mình cùng với những chính sách cơ chế thông thoáng và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực như: thuế, tài chính, đất đai, thủ tục hành chính đơn giản, thuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện đại.các ĐKKT Trung Quốc đã tận dụng mọi khả năng và điều kiện cho phép, thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư bên ngoài, nhanh chóng làm thay đổi diện mạo và thúc đẩy hiệu quả quá trình hiện đại hoá của đặc khu. Đáng chú ý là các ĐKKT đã trở thành những bài học thí điểm đầy kinh nghiệm đối với các vùng kinh tế khác ở Trung Quốc trong lĩnh vực thu hút nguồn vốn đầu tư.
- Khắc phục những yếu kém về kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội trong nước Các nước kém và đang phát triển thường có kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội lạc hậu, yếu kém, không đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong quá trình công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế. Trong điều kiện chưa xây dựng được trên phạm vi cả nước, việc thành lập KKT trên một không gian địa lý nhất định được ưu tiên tập trung các nguồn lực để đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, thuận lợi, hiện đại, đi trước một bước, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư, cho phép khắc phục những yếu kém về kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội hiện có, đẩy nhanh quá trình thu hút vốn, công nghệ, đầu tư sản xuất tăng xuất khẩu, tạo ra sự đột phá về phát triển kinh tế. - Tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của các khu vực nội địa lân cận Mở cửa nền kinh tế, thực hiện hội nhập, đẩy mạnh phát triển thương mại với nước ngoài đòi hỏi phải xây dựng và thực hiện các thể chế và định chế của nền kinh tế thị trường. Mô hình KKT gắn liền với việc thực hiện chính sách mở cửa, thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế; là cơ sở cho việc thu hút đầu tư phát triển.
Việc thực hiện thành công các KKT sẽ khai thác lợi thế về địa lý, điều kiện thiên nhiên, tài nguyên trong quan hệ kinh tế quốc tế và trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế trong KKT đồng thời tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho các khu vực nội địa lân cận, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các miền, các vùng. Mô hình KKT không những có tác dụng trợ lực cho chiến lược phát triển đất nước mà còn có khả năng tạo mối liên kết ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế khác, qua việc mua bán hàng hoá trên thị trường trong nước, để cung cấp nguyên vật liệu cho nhu cầu sản xuất của các KKT, các đơn vị trong nước phải thiết lập và có những thay đổi về chất lượng, giá cả, các luồng và nguồn phân phối, điều này sẽ kích thích hoạt động và gia tăng các mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị trong nước và trong KKT. Chẳng hạn khu mậu dịch tự do Penang (Malaixia) lúc mới bắt đầu khởi công (năm 1972) thì không ít người hoài nghi về triển vọng của nó. Song ngày nay, Penang đã nổi lên như là mô hình thành công nhất của việc mở cửa nền kinh tế Malaixia, ở đây các mục tiêu của nước chủ nhà và các tập đoàn kinh tế thế giới đã hội tụ, gắn kết và thoả mản lợi ích.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 - Tăng cường năng lực xuất khẩu và dự trữ ngoại tệ Các quốc gia đều phải thực hiện chiến lược xuất khẩu, mở rộng thị trường ngoài nước, thu ngoại tệ để phục vụ yêu cầu tích luỹ, đầu tư của nền kinh tế, nhập khẩu các loại máy móc thiết bị, vật tư nguyên liệu và hàng tiêu dùng thiết yếu. Phát triển các KKT nói chung và các khu chế xuất đều là các hình thức phù hợp với chiến lược hướng về xuất khẩu. Một vấn đề khác là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các đơn vị trong nước mặc dù có tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ nhưng cũng rất khó khăn khi xuất khẩu hàng hoá vì hạn chế về trình độ công nghệ, chất lượng, giá cả, công tác thâm nhập thị trường.