CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC BAN HANH LUẬT KHUYEN KHÍCH DAU TƯ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DCND LÀO VÀ LUẬT ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM 1. DUONG LOI, CHÍNH SÁCH CUA DANG NHÂN DAN CÁCH MẠNG LAO VA CUA DANG CONG SAN VIET NAM VE THU HUT VA KHUYEN KHICH DAU TU 1. Khái niệm về khuyến khích dau tư Khi nền kinh tế thế giới càng phát triển, hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra càng mạnh mẽ thì các quốc gia ngày càng chú trọng đến việc hoàn thiện pháp luật đầu tư. Cũng vì thế mà khái niệm khuyến khích đầu tư ngày càng trở nên pho biến.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, "khuyén khích" được hiểu là việc tạo điều kiện thuận lợi hơn bình thường dé phat triển một công việc nào đó. "Đầu tư" là việc bỏ ra giá tri nào đó, bao gồm nhân lực, vật lực, của cải vật chất với mục đích thu về một giá tri lớn hơn giá tri bỏ ra. Như vậy, khuyến khích đầu tư là việc tạo điều kiện thuận lợi để chủ đầu tư bỏ ra một gia tri vật chat, phi vat chat vào một mục đích kinh doanh nhất định. Dưới góc độ pháp lý, pháp luật của Lào và của Việt Nam đều không đưa ra khái niệm "khuyến khích dau tr" mà chỉ có định nghĩa về "dau tu".
Khoản 1, Điều 3, Luật Dau tư (2005) của Việt Nam định nghĩa "Pau tur là việc nha dau tr bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình dé hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đâu tư theo quy định của Luật này và các quy định có liên quan". Khoản 1, Điều 3 Luật Khuyến khích dau tư (2009) của Lào định nghĩa ngắn gon hơn, nhưng nội dung cũng tương tự "Dau tu có nghĩa là nhà dau tư sử dụng vốn hữu hình và vô hình vào kinh doanh, sản xuất". Theo định nghĩa của Diễn đàn Thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) thì “Khuyến khích dau tư hay còn gọi là wu đãi đâu tư là biện pháp được Chính phủ sử dung dé thu hút đầu tư, hướng các du án đầu tr vào các ngành, các khu vực cân thiết hoặc ảnh hưởng đến tinh chất của dau tư". Như vậy, khuyến khích đầu tư được hiểu là một sự ưu đãi hơn so với mức thông thường nhằm thúc day, tác động tích cực tới các chủ thé được khuyến khích là các nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình dé tiễn hành sản xuất, kinh doanh, hình thành tài sản trong các hoạt động đầu tư.
Qua các cách tiếp cận khác nhau, tác giả luận văn xin đưa ra khái niệm chung nhất về khuyến khích đầu tư như sau: Khuyến khích dau tư là việc một Chính phủ dua ra hệ thống các chính sách, biện pháp thuận lợi hơn bình thường để thu hút sự dau tư của các nhà dau tư trong và ngoài nước hoặc dé định hướng phát triển kinh tế theo những mục tiêu nhất định. Trong pháp luật đầu tư tồn tại hai khái niệm phổ biến, đó là “ưu đãi đầu tư” và “bảo đảm đầu tư”. Theo đó, để khuyên khích các nhà đầu tư đưa vốn ra dau tư thì bất kỳ quốc gia nào cũng phải đưa ra các biện pháp dé nhà đầu tư cảm thấy an toàn khi tiến hành đầu tư. Biện pháp đó là việc đảm bảo đầu tư.
Đảm bảo đầu tư là các cam kết của Nhà nước đối với nhà dau tư dé khang định răng hoạt động đầu tư sẽ không bị Nhà nước can thiệp bởi các điều kiện không thuộc về cạnh tranh trong kinh doanh như: trưng thu, trưng mua hay việc đảm bảo những quyên tối thiêu của nhà dau tư như bảo đảm về vốn, tài sản, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền chuyên vốn, tài sản ra nước ngoài. Có thé nói đảm bảo đầu tư là cái nền cơ bản mà mọi quốc gia hiện nay đều cam kết và đáp ứng cho nhà đầu tư dù là trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài. Cũng vì vậy mà các quốc gia trên thế giới quy định bao đảm dau tư tương tự nhau. Khi tiến hành đầu tư, người ta thường quan tâm tới các biện pháp ưu đãi đầu tư của mỗi quốc gia.
Biện pháp ưu đãi đầu tư chính là biện pháp khuyến khích đầu tư. Như vậy, ta có thé phân biệt được “khuyên khích đầu tư” với “đảm bảo dau tư” mặc dù việc đưa ra các biện pháp đảm bảo đầu tư hay khuyến khích đầu tư đều nhằm thúc đầy, thu hút hoạt động đầu tư và đều được quy định trong Luật Đầu tư của Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tư của Lào. Như vậy, ngày nay, nói đến khuyến khích đầu tư, ta hiểu đó là việc các Nhà nước đưa ra và áp dụng các biện pháp ưu đãi đầu tư. Đường lỗi chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về thu hút và khuyến khích đầu tw Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa làm cho các nền kinh tế xích lại gần nhau hơn, Chính phủ Lào đã có chính sách hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế bắt đầu từ năm 1989.
Chính phủ Lào đã mở cửa đón nhận việc đầu tư của nước ngoài, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư theo ngành nghề kinh doanh do Nhà nước quy định trên cơ sở pháp luật của Cộng hòa DCND Lào. Trên cơ sở Hiến pháp, Đảng và Nhà nước Lào đã thực hiện chính sách mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế đa phương và song phương, đa dạng hóa quan hệ với mọi quốc gia, mọi tô chức quốc tế theo nguyên tắc tôn trọng, tự do, hòa bình và cùng có lợi. Đảng và Nhà nước Lào cũng khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó, Nhà nước Lào cũng ban hành các văn bản pháp luật về công nhận đầu tư đối với hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài.
Tuy nhiên, pháp luật về đầu tư của Lào vẫn còn tồn tại những bat cập, thiếu đồng bộ ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Mục tiêu quan trọng của Chính phủ Lào trong việc mở rộng mối quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài là hướng tới việc thực hiện chính sách đổi mới toàn diện, trong đó đặc biệt quan trọng là lĩnh vực kinh tế, thực hiện mục tiêu chuyên đổi việc quản lý kinh tế, phát huy sức mạnh dân chủ, thông nhất chính sách tiền tệ, đây mạnh phát triển các ngành công nghiệp năng lượng. Mặt khác, trong khi phát triển kinh tế thì phải giải quyết được những đòi hỏi về vốn, máy móc, trang thiết bị công nghệ hiện đại, trình độ lao động và trình độ quản lý. Huy động vốn đầu tư không chỉ đem lại lợi ích cho nền kinh tế mà còn góp phan tăng nguồn thu ngân sách, tạo việc làm cho người lao động, chính sách quan tâm dành cho người nghèo, vấn đề trật tự an toàn xã hội được đảm bảo hơn.
Nhận thay được vai trò to lớn của chính sách đầu tu, Ban chấp hành trung ương Đảng nhân dân Cách mạng Lào đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Cộng hòa DCND Lào trong giai đoạn 2010-2020: “77c đẩy việc phát triển kinh tế nhiều thành phan trong đó quan tâm đến việc phát triển doanh nghiệp tur nhân và doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài, tạo môi trường đâu tư kinh doanh có sự hài hòa thông thoáng, dam bao sự an toàn, lành mạnh và có tính cạnh tranh cao so với khu vực. Phát triển kinh doanh có quy mô trung bình và nhỏ, lam cho tài chính kinh doanh có sự ổn định vững chắc, từng bước giải quyết và tiễn tới việc giải quyết các khoản nợ nước ngoài. Tăng vốn cho việc dau tư phát triển kinh tế — xã hội, lập dự án đâu tư phù hợp, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng của quan hệ kinh té với nước ngoài, tao diéu kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, thu hút vốn khoa học kỹ thuật nước ngoài và thực hiện ky kết các hiệp định song phương va da phương ở phạm vi cấp Nhà nước, cấp dia phương va trong phạm vi các doanh nghiệp với nhau `. Thẻ chế hóa đường lối chính sách của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chính phủ Lào đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư, trong đó quy định các cá nhân, tổ chức không chỉ là nhà đầu tư trong nước mà còn là các nhà đầu tư nước ngoài có quyền đầu tư tại CHDCND Lào trên nguyên tắc các bên cùng có lợi, hoạt động trên cơ sở pháp luật của Cộng hòa DCND Lào, nhà đầu tư sẽ được bảo vệ bởi pháp luật của Cộng hòa DCND Lào.
Pháp luật đầu tư của Lào nhìn chung đã bảo đảm được tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản. trong đó Luật Doanh nghiệp quy định việc thành lập công ty, hình thức, loại hình và ké cả việc góp vốn của các nhà đầu tư. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, quy định về việc xem xét đơn xin phép đầu tư của các nhà đầu tư. Trong từng thời điểm cụ thể, CHDCND Lào đã ban hành một số văn bản pháp luật về công nhận đầu tư đối với hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài, như : Pháp lệnh về đầu tư nước ngoài ngày 9/4/1988 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài số 01/1994-QH ngày 14/3/1994, Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư trong nước số 03/95-QH ngày 14/10/1995 được sửa đổi, bố sung bởi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước số 10/QH ngày 22/10/2004; Nghị định của Chính phủ về việc quản lý đầu tư của Nhà nước ngày 22/5/2002; Quyết định về tổ chức thực hiện Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Lào ngày 22/3/2001, ngoài ra còn có một số văn bản pháp luật liên quan khác.
Hiện nay, hoạt động đầu tư của Lào đang được thực hiện theo hệ thống các văn bản sau: Một là, Luật Đầu tư nước ngoài : Luật Đầu tư nước ngoai đầu tiên của CHDCND Lào được ban hành ngày 19/4/1988, đã được thay thé bằng Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua ngày 14/3/1994, có hiệu lực tháng 6/1994 (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư nước ngoài của CHDCND Lào). Luật này chỉ điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài.