Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về quá trình phát triển khu kinh tế Vân Đồn, các chính sách về đất đai cũng như ảnh hưởng của sự phát triển khu kinh tế Vân Đồn đến sử dụng đất và đời sống của người dân. Từ đó đề xuất hướng hoàn thiện chính sách kèm theo các giải pháp thực hiện.
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cùng với đô thị hóa để huyện Vân Đồn ngày càng văn minh, giàu đẹp, sánh vai với các khu kinh tế khác trong tỉnh và cả nước nhưng không gây ảnh hưởng đến nền sản xuất nông nghiệp của địa phương; Góp phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và trong công tác quản lý, phát triển kinh tế nói riêng của một khu kinh tế trẻ; Góp phần hạn chế, giải toả những bức xúc về khiếu kiện của công dân khi bị mất đất sản xuất để phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội 1. Cơ sở thực tiễn về phát triển khu kinh tế 1. Khái niệm khu kinh tế Thuật ngữ “Khu kinh tế” (Economic zones) xuất hiện từ cuối thập niên 70 của thế kỷ trước từ Trung Quốc. Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về khu kinh tế.
Theo nghĩa rộng, KKT là những khu vực địa lý được áp dụng những chính sách kinh tế đặc biệt. Theo nghĩa hẹp, KKT là một loại hình riêng của khu kinh tế tự do, đầy đủ như một xã hội thu nhỏ. Đó là một khu vực địa lý riêng biệt, được áp dụng những chính sách kinh tế đặc biệt nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ, kiến thức về quản lý để phát triển kinh tế với một cơ cấu ngành nghề đầy đủ, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu, nhưng cũng không bỏ qua thị trường nội địa. KKT bao gồm tất cả các loại hình khác nhau của khu kinh tế tự do, được tổ chức thành các khu chức năng: khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng nước sâu và các ngành công nghiệp, dịch vụ gắn với cảng, khu phi thuế quan, khu đô thị, khu du lịch, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác.
Luan van 5 Ở Việt Nam, KKT được hiểu là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia, có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong khung pháp lý hiện hành và ngày càng hoàn thiện (Nguyễn Văn Phú, 2005). Một số tài liệu khác cũng có khái niệm tương tự, khu kinh tế là khu vực độc lập hay có ranh giới địa lý xác định; Chỉ chịu ảnh hưởng bởi một cơ quan quản lý duy nhất; Các thủ tục, chính sách áp dụng cho doanh nghiệp trong KKT có một cơ chế riêng, độc lập, và có sự đột phá theo hướng thủ tục ngày càng gọn nhẹ; Có những ưu đãi nhất định để thu hút đầu tư (Huỳnh Thế Du và cs, 2014). Mới đây nhất, tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, khái niệm khu kinh tế được giải thích như sau: “Khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh” (Chính phủ, 2018). Đặc trưng của Khu kinh tế Khu kinh tế có một số đặc trưng cơ bản sau + Là khu vực có vị trí địa lý, ranh giới riêng biệt với các vùng khác, một bộ phận lãnh thổ của quốc gia được Chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp lí riêng, mở cửa theo các thông lệ quốc tế.
+ Là nơi có môi trường đầu tư, kinh doanh, buôn bán phù hợp với cơ chế thị trường, được hưởng quy chế tự do và ưu đãi hơn các vùng khác. + Là nơi giao lưu kinh tế với nước ngoài thông thoáng, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài 1. Vai trò của Khu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập Vai trò của Khu kinh tế được tổng hợp sau (Đặng Tiến Sĩ, 2016): - Các KKT có điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, giúp giải quyết khó khăn về vốn, tiếp cận và chuyển giao khoa học - công nghệ tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý hiện đại; khai thác và sử dụng tối ưu nguồn vốn còn Luan van 6 chưa được huy động; tạo nên sự thông thương, liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước; từng bước thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển năng động hơn, có khả năng cạnh tranh sản phẩm cao hơn trên thị trường quốc tế. - Các KKT tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và phương pháp quản lý hiện đại.
Với ưu thế đặc biệt, các KKT đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài. - Các KKT góp phần khai thác hiệu quả các nguồn lực và lợi thế của quốc gia, các khu vực. Ở những khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi, với sự xuất hiện của các KKT đã làm cho việc khai thác và sử dụng các nguồn lực trở nên hiệu quả hơn, nền kinh tế phát triển sôi động hơn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở những khu vực có đất đai cằn cỗi, hoang hóa, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, ít có khả năng sinh lợi, khi KKT được xây dựng và đi vào hoạt động với sự thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước đã làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội thay đổi hẳn: các vùng thuần nông trở thành các vùng kinh tế đa ngành, trong đó các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn, còn nông nghiệp chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa; chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên rõ rệt.
- Các KKT tạo thêm việc làm và nâng cao trình độ cho người lao động. Sự hoạt động đa ngành nghề của các KKT đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao động, đặc biệt là lao động địa phương với chính sách ưu tiên giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ. Với yêu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế, trình độ lao động trong các KKT cũng phải được nâng lên xứng tầm. Do đó, khi đi vào hoạt động, các KKT một mặt thu hút lao động có chất lượng, mặt khác có hỗ trợ để bồi dưỡng nâng cao tay nghề lao động.
Đồng thời, với quy chế hoạt động sản xuất, kinh doanh chặt chẽ, các KKT còn rèn luyện tác phong lao động mới và nâng cao tính kỷ luật lao động. - Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực xuất khẩu. Sự phát triển của các KKT với việc ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khu vực 1 sang khi vực 2 và 3, kéo theo chuyển dịch lao động tương ứng. Nơi đây có sự tập trung và ưu tiên về vốn, khoa học - công nghệ, do đó sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong Luan van 7 nước cũng như quốc tế.
Điều này làm tăng cơ hội xuất khẩu cho hàng hóa được sản xuất trong các KKT. - Góp phần đổi mới cơ chế quản lí, cải thiện môi trường đầu tư và mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước trên thế giới. Rút kinh nghiệm từ việc xây dựng và phát triển các KKT ở những quốc gia đi trước, các KKT đi sau cũng ứng dụng các cơ chế quản lý thông thoáng, từ đó cải thiện được rất nhiều môi trường đầu tư. Việc hấp dẫn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước làm quen, ký kết hợp đồng kinh tế với nhau.
Sự phát triển khu kinh tế gắn với đô thị hóa và tác động của nó tới biến động đất đai và đời sống người dân Theo Trịnh Duy Luân (2004): Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì việc chú trọng phát triển các vùng kinh tế trọng điểm và các đô thị là vô cùng cần thiết cho phát triển kinh tế ở các nước nói chung và ở nước ta nói riêng. Từ sau những năm 1990 cùng với những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế - xã hội, mạng lưới đô thị quốc gia của nước ta đã được mở rộng và phát triển. Năm 1990, số lượng đô thị cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị. Đến tháng 12 năm 2014, cả nước có 774 đô thị, trong đó có hai đô thị loại đặc biệt, 15 đô thị loại I, 21 đô thị loại II, 42 đô thị loại III, 68 đô thị loại IV và 626 đô thị loại V.
Dân số thành thị (gồm các khu vực: nội thành, nội thị và thị trấn) đạt gần 31 triệu người với tỷ lệ đô thị hóa trung bình năm 2014 khoảng 34,5%. Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, trong những năm gần đây tăng trung bình 1% - 1,02%/năm, tương ứng với 1 - 1,2 triệu dân đô thị mỗi năm. Tổng thu ngân sách khu vực đô thị chiếm hơn 70% tổng thu ngân sách toàn quốc. Đô thị Việt Nam đã và đang chuyển biến tích cực cả về mặt lượng và chất, mạng lưới đô thị quốc gia phát triển ngày một mạnh mẽ hơn.
Ngày 7/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 445/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, phấn đấu đến năm 2025 tổng số đô thị của cả nước vào khoảng 1.