CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Đầu tư và đầu tư xây dựng công trình 1. Khái niệm đầu tư Có rất nhiều quan niệm về đầu tư trên nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau nhưng hiểu một cách chung nhất: Đầu tư là quá trình bỏ vốn ở thời điểm hiện tại liên quan đến việc tính toán hiệu quả về các mặt kinh tế, xã hội do quá trình hoạt động đầu tư mang lại.
[28] Theo phương diện hoạch định tài chính thì đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan“. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đầu tư xây dựng công trình Đầu tư xây dựng (ĐTXD) công trình là hoạt động có liên quan đến bỏ vốn ở giai đoạn hiện tại nhằm tạo dựng tài sản cố định là công trình xây dựng, cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền KT-XH, như: nhà máy, đường giao thông, hồ đập thuỷ lợi, trường học, bệnh viện, trụ sở…để sau đó tiến hành khai thác công trình, sinh lợi với một khoảng thời gian nhất định nào đó ở tương lai.
Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng thì hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án ĐTXD công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án ĐTXD công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt 6 động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Phân loại đầu tư Phân loại đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý, mỗi hình thức đầu tư có vị trí, đặc điểm khác nhau đòi hỏi cách quản lý khác nhau. Theo các tiêu chí khác nhau, hoạt động đầu tư có thể chia thành: a- Theo mối quan hệ với sự gia tăng của cải vật chất xã hội: - Đầu tư phát triển: là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, của địa phương, của ngành và các cơ sở sản xuất kinh doanh (SX-KD) dịch vụ nói riêng thông qua các hoạt động xây dựng nhà cửa, kiến trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị, tiến hành các công tác XDCB khác và các chi phí phục vụ cho một chu kỳ hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật này.
- Đầu tư chuyển dịch: là hoạt động đầu tư không làm tăng thêm của cải xã hội mà chỉ là sự chuyển dịch giá trị giữa các nhà đầu tư như các hoạt động mua bán hàng hóa, mua cổ phiếu, trái phiếu…Từ nội dung của loại hình đầu tư này mà đầu tư chuyển dịch bao gồm đầu tư tài chính và đầu tư thương mại. + Đầu tư tài chính: theo đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động SX-KD của công ty phát hành. + Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận. b-Theo quan hệ quản lý: - Đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư mà trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra.
Hoạt động đầu tư 7 này thường thực hiện thông qua hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần,. - Đầu tư gián tiếp: là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội. Những người có vốn không trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư. Hoạt động đầu tư bao gồm: gửi tiền tiết kiệm, mua trái phiếu, cổ phiếu.
c- Theo cơ cấu nguồn vốn: - Hoạt động đầu tư từ các nguồn ngoài NSNN mà chủ yếu là ĐTXD công trình. Nguồn vốn ngoài NSNN như: vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn vay các ngân hàng thương mại, vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI, vốn NGO. - Hoạt động đầu tư từ nguồn NSNN là hoạt động đầu tư chỉ sử dụng vốn NSNN, hoặc chủ yếu bằng nguồn vốn NSNN. Nguồn vốn đầu tư từ NSNN được hình thành qua hai kênh: từ khoản tích luỹ của NSNN, khoản đi vay trong nước và khoản vay nước ngoài (thông qua các dự án từ nguồn ODA).
Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm Dự án đầu tư XDCB là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình: xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư XDCB, - Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư XDCB là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Xét về góc độ quản lý, dự án đầu tư XDCB là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài. - Xét về nội dung, dự án đầu tư XDCB bao gồm một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, đó là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện để tạo ra 8 các kết quả cụ thể. Những nhiệm vụ và các hoạt động cùng với thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch thực hiện dự án. - Theo quan niệm phổ biến hiện nay, dự án đầu tư XDCB là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
Đặc điểm Thứ nhất, đầu tư XDCB được coi là yếu tố khởi đầu cho sự phát triển. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng, trong đó có yếu tố đầu tư. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực kích thích các hoạt động khác trong nền kinh tế phát triển. Thứ hai, đầu tư XDCB đòi hỏi một khối lượng vốn lớn.
Khối lượng vốn đầu tư lớn là yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, nếu sử dụng vốn không có hiệu quả sẽ kìm hãm sự phát triển KT-XH. Thứ ba, quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động dài mới có thể đưa vào khai thác, sử dụng. Sản phẩm đầu tư XDCB có thời gian hoàn vốn dài vì nó có tính đặc biệt, sản xuất không theo một dây chuyền hàng loạt, mà mỗi công trình, mỗi dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau.
Thứ tư, đầu tư XDCB là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu là do thời gian đầu tư kéo dài. Trong thời gian này, các yếu tố kinh tế, chính trị và tự nhiên biến động có thể tác động tiêu cực, những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường được hết khi lập dự án. Thứ năm, đầu tư XDCB liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà có thể nhiều địa phương.
Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý, qui định rõ phạm vi, trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư. Vai trò của dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước. Trong nền kinh tế quốc dân, vốn đầu tư XDCB từ NSNN có vai trò rất quan trọng đối với phát triển KT-XH, thể hiện trên các mặt sau: Một là, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nước, như: giao thông, thuỷ lợi, điện, trường học, trạm y tế. góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội.
Hai là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội. Chẳng hạn, để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2020, Đảng và Nhà nước chủ trương tập trung vốn đầu tư vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm, như: dầu khí, hàng không, hàng hải, vận tải đường bộ, đường sắt cao tốc, công nghệ cao. Ba là, việc Nhà nước bỏ vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng và các ngành, lĩnh vực có tính chiến lược không những có vai trò dẫn dắt hoạt động đầu tư trong nền kinh tế mà còn góp phần định hướng hoạt động của nền kinh tế.