Luận văn thạc sĩ quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại quỹ dịch vụ viễn thông công ích việt nam giai đoạn 2006 2015

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại quỹ dịch vụ viễn thông công, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2011

126
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý vốn đầu tư viễn thông công ích

Quản lý vốn đầu tư viễn thông công ích tại Việt Nam giai đoạn 2006-2015 là một chủ đề quan trọng, phản ánh sự phát triển của ngành viễn thông trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Vốn đầu tư viễn thông được sử dụng để mở rộng mạng lưới và cung cấp dịch vụ cho các vùng khó khăn, nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Chính sách đầu tư công trong lĩnh vực này đã được Chính phủ phê duyệt thông qua các quyết định quan trọng, trong đó có quyết định số 74/2006/QĐ-TTg. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc quản lý hiệu quả nguồn vốn để đạt được mục tiêu phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Theo đó, chính sách đầu tư cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc minh bạch và hiệu quả, nhằm đảm bảo rằng nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và mang lại lợi ích cho cộng đồng.

1.1. Bản chất và vai trò của dịch vụ viễn thông công ích

Dịch vụ viễn thông công ích (DVVTCI) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền truy cập thông tin cho mọi người dân, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa. DVVTCI không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách giữa thành phố và nông thôn mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, chính sách đầu tư vào DVVTCI cần được thiết kế để đảm bảo rằng mọi người dân đều có thể tiếp cận dịch vụ viễn thông với giá cả hợp lý. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn tạo ra sự công bằng trong xã hội. Chính vì vậy, việc quản lý vốn đầu tư cho DVVTCI cần được thực hiện một cách chặt chẽ và hiệu quả, nhằm đảm bảo rằng các dịch vụ thiết yếu này được cung cấp đầy đủ và kịp thời.

II. Thực trạng quản lý vốn đầu tư giai đoạn 2006 2010

Giai đoạn 2006-2010, hoạt động quản lý vốn đầu tư cho chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam (VTF) đã được thành lập và hoạt động hiệu quả trong việc huy động và phân bổ nguồn vốn. Theo báo cáo, trong giai đoạn này, VTF đã hỗ trợ hàng triệu thuê bao Internet và điện thoại cho người dân ở các vùng khó khăn. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề trong quản lý vốn đầu tư, như việc thu nộp từ các doanh nghiệp viễn thông chưa đạt yêu cầu, dẫn đến thiếu hụt nguồn lực cho các dự án. Đặc biệt, cơ chế quản lý hiện tại cần được cải thiện để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn.

2.1. Đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư

Thực trạng quản lý vốn đầu tư cho DVVTCI giai đoạn 2006-2010 cho thấy sự cần thiết phải cải cách. Mặc dù đã có những kết quả đáng kể trong việc cung cấp dịch vụ, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Tỷ lệ thu nộp từ các doanh nghiệp viễn thông chưa đạt yêu cầu, với nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính. Điều này dẫn đến việc thiếu hụt nguồn lực cho các dự án phổ cập dịch vụ. Hơn nữa, cơ chế quản lý hiện tại còn phức tạp và thiếu minh bạch, gây khó khăn trong việc theo dõi và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, nhằm đảm bảo rằng nguồn vốn được sử dụng hiệu quả và mang lại lợi ích cho cộng đồng.

III. Giải pháp đổi mới quản lý vốn đầu tư giai đoạn 2011 2015

Giai đoạn 2011-2015, việc đổi mới quản lý vốn đầu tư cho chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích là rất cần thiết. Các giải pháp cần tập trung vào việc cải thiện cơ chế thu nộp từ các doanh nghiệp viễn thông, cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Một trong những giải pháp quan trọng là xây dựng các tiêu chuẩn kinh tế và kỹ thuật trong công tác cung cấp dịch vụ, nhằm đảm bảo rằng các dự án được thực hiện đúng tiến độ và chất lượng. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chương trình, giúp tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong việc theo dõi và đánh giá các dự án. Việc xã hội hóa hoạt động cung cấp dịch vụ cũng cần được xem xét, nhằm huy động thêm nguồn lực từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội.

3.1. Định hướng và mục tiêu quản lý vốn đầu tư

Định hướng quản lý vốn đầu tư cho chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2011-2015 cần tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Mục tiêu chính là đảm bảo rằng mọi người dân đều có thể tiếp cận dịch vụ viễn thông với giá cả hợp lý. Để đạt được điều này, cần xây dựng một cơ chế quản lý minh bạch và hiệu quả, giúp theo dõi và đánh giá các dự án một cách chính xác. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp viễn thông tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công ích, nhằm đảm bảo rằng nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và mang lại lợi ích cho cộng đồng.

14/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, viễn thông được coi là dịch vụ thiết yếu của con người (ITU, 1998) vì thông qua nó con người tiếp nhận được kiến thức, một nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và mỗi quốc gia. Khi một dịch vụ được coi là thiết yếu thì nhất thiết nó phải được phổ cập để mọi người có thể sử dụng. Mỗi quốc gia cần phải có chiến lược của mình để phát triển mạng lưới viễn thông đến gần với người sử dụng, đồng thời cũng phải có chiến lược giá cả hợp lý để mọi người có thể sử dụng dịch vụ viễn thông (DVVT) mà không bị ảnh hưởng lớn đến cân đối ngân sách của mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình.

Với cách tiếp cận xã hội học, DVVT cần phải được phổ cập bởi vì: Trong xã hội, mặc dù điện thoại đã xuất hiện từ lâu và phát triển rất nhanh, nhưng do mục tiêu lợi nhuận nên hầu hết điện thoại được phát triển ở cỏc vựng đô thị, cỏc vựng tập trung dân cư và cỏc vựng kinh tế phát triển. Cũn cỏc vựng khụng đem lại lợi nhuận thì bị các nhà kinh doanh bỏ qua. Như vậy, vô hình trung các doanh nghiệp viễn thông (DNVT) đã bỏ mặc một bộ phận dân cư trong xã hội không được sử dụng điện thoại. Về vấn đề này, Nhà nước không thể để cho dịch vụ điện thoại phát triển tự do theo sự điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường được.

Nhà nước sẽ sử dụng công cụ của mình để điều tiết sao cho các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước phải được phát triển một cách hài hoà. Nhà nước coi phổ cập dịch vụ điện thoại là trách nhiệm chung, trước hết là của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại. Trách nhiệm đó được thực hiện bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp dịch vụ điện thoại ở cỏc vựng khó khăn; hoặc yêu cầu các doanh nghiệp phải đóng góp vào quỹ phổ cập dịch vụ và Nhà nước dùng quỹ này để thuê một doanh nghiệp nào đó làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ phổ cập. Với cách tiếp cận kinh tế học, DVVT cần phải được phổ cập vì 2 lý do chính: Một là: DVVT là hàng hóa được cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu liên lạc cho mỗi và mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan đơn vị… trong sinh hoạt đời sống xã hội, trong sản xuất kinh doanh, trong quản lý điều hành của các cơ quan chính quyền… 2 Như vậy, DVVT là một loại hàng hóa công cộng vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng vừa là “tài liệu” cần thiết để sản xuất kinh doanh và quản lý Nhà nước.

Chính vì vậy, DVVT phải được phổ cập. Hai là: Khi một người có thiết bị viễn thông được kết nối với mạng lưới viễn thông, thì bản thân họ có quyền và lợi ích liên lạc với các thành tố vốn đó cú trong mạng lưới. Mặt khác, các thành tố vốn đã có của mạng lưới cũng đồng thời cú thờm quyền và lợi ích liên lạc với thành tố mới trên cùng một hệ thống mạng lưới sẵn có. Trong kinh tế viễn thông hiện tượng đó được gọi là hiệu ứng ngoại sai.

Hiệu ứng ngoại sai trong liên lạc viễn thông có tác dụng thúc đẩy sự phát triển DVVT, và do đó thúc đẩy hàng hóa công cộng phát triển. Ở Việt Nam, việc phổ cập DVVT càng trở nên cần thiết khi đất nước đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Việc “đi tắt đón đầu” được coi là chính sách phù hợp để rút ngắn, thu hẹp khoảng cách, theo kịp các nước trong khu vực và thế giới. Muốn thành công trong thế giới của kỷ nguyên thông tin, của kinh tế tri thức, mọi người dân Việt Nam phải được tạo điều kiện để tiếp cận rộng rãi đến kiến thức.

Chính vì vậy, một chính sách phổ cập dịch vụ hiệu quả sẽ giữ một vai trò hết sức quan trọng. Xuất phát từ thực trạng trên, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 74/2006/QĐ-TTg ngày 07/4/2006, về: “Phờ duyệt Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2010” với mục đích đẩy nhanh việc phổ cập các DVVT và Internet đến mọi người dõn trờn cả nước, trong đó trong đó tập trung phát triển phổ cập dịch vụ cho cỏc vựng miền núi, vựng sõu, vựng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm rút ngắn khoảng cách về sử dụng DVVT và Internet giữa cỏc vựng, miền tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng. Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích (DVVTCI) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ bao gồm phổ cập DVVT và cung cấp DVVT bắt buộc bảo đảm an ninh quốc phòng. Sau đây gọi chung là chương trình phổ cập DVVTCI.

Chương trình phổ cập DVVTCI đến năm 2010 được phê duyệt với kinh phí thực hiện ước tính khoảng 5. Có thể thấy, đây là một nguồn vốn lớn xuất phát từ ngân sách Nhà nước, do đó công tác quản lý nguồn vốn đầu tư này có 3 vai trò đặc biệt quan trọng nhằm duy trì và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, chống lãng phí, bảo toàn vốn. Nhiệm vụ quản lý vốn đầu tư cho chương trình phổ cập DVVTCI được giao cho Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam (VTF). Giai đoạn 2006 – 2010, VTF thực hiện quản lý vốn hỗ trợ cung cấp DVVTCI theo đúng tinh thần Quyết định 74/2006/QĐ-TTg.

Do đó, đến hết năm 2010, các mục tiêu cụ thể của chương trình về cơ bản đã hoàn thành, thậm chí có một số chỉ tiêu còn vượt so với kế hoạch đề ra. Nguồn vốn thực hiện chương trình luôn được bảo toàn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Nguyên nhân cơ bản là mới triển khai cung cấp DVVTCI, chưa có kinh nghiệm, các chế độ chính sách quản lý vốn từng bước được bổ sung, hoàn thiện chưa đồng bộ.

Mặc khác, để thực hiện chương trình xây dựng đất nước (sửa đổi, bổ sung năm 2011) theo tinh thần Nghị quyết đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, các quyết định của Chính phủ về phổ cập DVVTCI tất yếu phải nâng cao khả năng quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI giai đoạn 2011 – 2015. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, với những kiến thức được đào tạo, đề tài: “Quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015” được lựa chọn nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Kinh tế Đầu tư. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI cùng với việc đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn chương trình phổ cập DVVTCI tại VTF giai đoạn 2006 – 2010, luận văn nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý vốn đầu tư trong giai đoạn 2011 – 2015. Yêu cầu nghiên cứu: - Quản lý vốn đầu tư phải có cơ sở lý luận và thực tiễn, được thực hiện thông qua đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, theo đúng pháp luật hiện hành.

Quản lý vốn phải gắn với công tác quản lý hành chính. - Luận văn phản ánh trung thực việc thực hiện công tác quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI trong thời gian qua. 4 - Các đề xuất cho giai đoạn 2011 – 2015 có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1.

Đối tượng nghiên cứu: Quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: - Lĩnh vực phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp logic. Sơ lược tình hình nghiên cứu: Vấn đề cung cấp DVVTCI nảy sinh đầu tiên tại các quốc gia phát triển.

Ngày nay đã trở thành vấn đề chung của văn minh nhân loại, thể hiện mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn. Xã hội hóa thông tin, cung cấp DVVTCI là yêu cầu đầu tiên để phát triển kinh tế tri thức và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, mà tất cả các quốc gia đều quan tâm và thực hiện. Cung cấp DVVTCI ở các nước tập trung vào việc phát triển, duy trì khả năng truy nhập của các hộ gia đình (HGĐ) vào hệ thống thông tin viễn thông công cộng. Cung cấp DVVTCI đảm bảo hầu hết các HGĐ có thể kết nối vào hệ thống thông tin viễn thông công cộng thông qua cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông quốc gia.

Chính sách phổ cập DVVTCI luôn nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân. Tùy điều kiện cụ thể, mỗi nước có cơ chế quản lý vốn đầu tư phổ cập DVVTCI phù hợp. Tuy nhiên, có thể tóm tắt một số nội dung chủ yếu sau: Về dịch vụ, phạm vi, đối tượng: Ở các nước phát triển, DVVTCI bao gồm các DVVT cơ bản tại vùng khó khăn, không phân biệt đối xử trong hỗ trợ cho cá nhân, HGĐ, cơ quan, đơn vị, hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp., không phân biệt công nghệ viễn thông hữu tuyến hay vô tuyến. Các nước đang phát triển, DVVTCI bao gồm phát triển và duy trì điểm truy nhập viễn thông công cộng (TNVTCC) và thuê 5 bao viễn thông (TBVT) cho mọi người dõn cú thu nhập thấp không phân biệt vùng, miền.

Đối tượng được thụ hưởng chính sách hỗ trợ thường tập trung vào phát triển, duy trì DVVTCI tại vùng xa xôi, hẻo lánh. Về tổ chức cung cấp DVVTCI: Trong môi trường độc quyền viễn thông, Chính phủ các nước thường giao cho DNVT chủ đạo thực hiện cung cấp DVVTCI đến vùng xa xôi, hẻo lánh, kinh doanh không có lãi và cho phép thực hiện cơ chế bự chộo giữa kinh doanh và cung cấp DVVTCI để giải quyết vốn đầu tư hỗ trợ cho chương trình được Nhà nước giao; Trong môi trường cạnh tranh, Chính phủ các nước tiến hành từng bước xã hội hóa cung cấp DVVTCI như: Quy định nghĩa vụ cung cấp DVVTCI, nghĩa vụ đóng góp nguồn kinh phí (theo % cước kết nối, hoặc % doanh số DVVT có lãi) tạo vốn đầu tư hỗ trợ cung cấp DVVTCI. Về hình thức sử dụng vốn đầu tư phổ cập DVVTCI: Có hai hình thức cơ bản đó là đầu tư không hoàn lại và cho vay ưu đãi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn "Luận văn thạc sĩ về quản lý vốn đầu tư trong chương trình viễn thông công ích tại Việt Nam giai đoạn 2006-2015" của Nguyễn Thị Hương Ngọc, dưới sự hướng dẫn của PGS. Từ Quang Phương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, là một nghiên cứu sâu sắc về quản lý vốn đầu tư cho chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2015.

Luận văn này cung cấp những phân tích chi tiết về hiệu quả quản lý vốn đầu tư, những điểm mạnh và điểm yếu của chương trình, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư trong tương lai.

Bạn đọc sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về vai trò của quản lý vốn đầu tư trong phát triển dịch vụ viễn thông công ích tại Việt Nam, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

Để tìm hiểu sâu hơn về quản lý vốn đầu tư tại các quỹ phát triển, bạn đọc có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như:

Luận văn Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng: Hoàn thiện Công tác Cho vay Đầu tư tại Quỹ Phát triển Thành phố Đà Nẵng, với những phân tích về hiệu quả của công tác cho vay đầu tư tại Quỹ Phát triển Đà Nẵng.

Luận văn thạc sĩ về giải pháp thúc đẩy quỹ đầu tư mở tại Việt Nam, đề cập đến giải pháp phát triển quỹ đầu tư dạng mở tại Việt Nam, một chủ đề liên quan đến cơ chế thu hút đầu tư cho các lĩnh vực trọng điểm.

Ngoài ra, bạn đọc cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận Văn Thạc Sĩ: Hình Thành Quỹ Đầu Tư Mạo Hiểm Để Huy Động Vốn Cho Khoa Học và Công Nghệ Tại Hà Nội, một tài liệu cung cấp cái nhìn về cơ chế huy động vốn đầu tư cho lĩnh vực khoa học và công nghệ, lĩnh vực góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.