CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Lý luận về Quỹ đầu tư nói chung và quỹ đầu tư dạng mở nói riêng đã được khá nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu. Hiện tại, đề tài về các giải pháp phát triển quỹ đầu tư dạng mở đã có một số tác giả nghiên cứu như: Đề tài nghiên cứu khoa học: “Giải pháp khuyến khích sự hình thành và phát triển quỹ đầu tư dạng mở tại Việt Nam” của tác giả Phạm Hồng Sơn (2008). Trong công trình nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tham gia TTCK Việt Nam, tìm hiểu kinh nghiệm về sự tham gia của quỹ mở vào TTCK của một số nước trên thế giới như Mỹ, Châu Âu, Singapore, đánh giá khả năng thành lập quỹ mở tại Việt Nam và đưa ra một số giải pháp khuyến khích thành lập quỹ mở tại TTCK Việt Nam. Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại thời điểm hoạt động của QĐT tại thị trường Việt Nam còn khá khiêm tốn, TTCK Việt Nam mới chỉ có 21 QĐT trong đó có 04 Quỹ công chúng và 17 quỹ thành viên với tổng giá trị tài sản khoảng 10.750 tỷ đồng, chưa có quỹ mở trên thị trường.
Bên cạnh đó, tại thời điểm nghiên cứu, Bộ tài chính chưa ban hành Thông tư hướng dẫn riêng về việc thành lập và quản lý quỹ mở do vậy chưa có hành lang pháp lý thành lập quỹ mở. Do vậy, tác giả đã đưa ra một số giải pháp như: hoàn thiện bổ sung khung pháp lý cho quỹ mở, hoàn thiện quy trình cấp phép và quản lý quỹ mở, nâng cao vai trò quản lý giám sát bảo vệ NĐT. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra còn hạn chế, chưa chi tiết, mới chỉ dừng lại góc độ giải pháp về hoàn thiện chính sách cơ chế để thành lập quỹ mở. Đề tài luận văn thạc sĩ: “Đánh giá hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Mai Phụng Chiêu (2011).
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về thực trạng hoạt động của QĐT bao gồm cả quỹ đóng, quỹ mở và 1 số quỹ đầu tư nước ngoài, định hướng thị trường quỹ các giai đoạn và đưa ra một số giải pháp phát triển QĐT nói riêng và nhóm giải pháp bổ trợ phát triển TTCK nói chung. Do phạm vi nghiên cứu là toàn bộ các QĐT nói chung và QĐT quốc tế nói riêng nên nội dung đề cập đến QĐT dạng mở không nhiều. Do vậy, các giải pháp đưa ra chủ yếu là các giải pháp chung để phát triển thị 12 trường chứng khoán Việt Nam và các QĐT bao gồm quỹ đầu tư dạng mở và các QĐT khác như Quỹ đầu tư chỉ số và Quỹ đầu tư Bất động sản. Đối với giải pháp phát triển quỹ đầu tư dạng mở, bài nghiên cứu cũng mới chỉ đưa ra các giải pháp chung về hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao vai trò quản lý của UBCK đối với quỹ mở chưa có một hệ thống các giải pháp toàn diện đồng bộ trên tất cả các khía cạnh.
Đề tài luận văn thạc sĩ: “Giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam” của tác giả Lê Huỳnh Như (2013). Trong luận văn này, tác giả tập trung phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của CTQLQ, QĐT và khả năng phát triển của QĐT dạng mở trên TTCK Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp thúc đẩy hình thành của phát triển QĐT dạng mở tại Việt Nam. So với các đề tài nghiên cứu trước đó về QĐT dạng mở, luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Huỳnh Như đã đưa ra hệ thống lý luận tương đối đầy đủ về QĐT nói chung và QĐT dạng mở nói riêng bao gồm các khái niệm, cơ sở phân loại QĐT, ưu điểm của QĐT dạng mở so với các kênh đầu tư khác tuy nhiên chưa đề cập đến tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ mở. Về phần thực trạng hoạt động của quỹ mở, tác giả chưa phân tích cụ thể được hoạt động của các QĐT trên thị trường do tác giả chưa đưa ra được các tiêu chí đánh giá cụ thể nên chưa thấy được xu hướng phát triển của loại hình QĐT.
Bên cạnh đó, tại thời điểm nghiên cứu, thị trường chưa có quỹ mở nào đi vào hoạt động do vậy tác giả chưa có đủ dữ liệu để đánh giá về hoạt động các quỹ mở. Trong phần giải pháp đưa ra, tác giả mới chỉ đưa ra các giải pháp chung về thúc đẩy phát triển TTCK, nâng cao chất lượng CTQLQ, hoàn thiện các quy định pháp lý. Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu đề cập về QĐT nói chung và QĐT dạng mở nói riêng. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trên đều thực hiện trong giai đoạn những năm 2008 – 2013, khi đó QĐT dạng mở chưa được thành lập và một số văn bản quy định về việc thành lập và quản lý quỹ mở chưa được ban hành.
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu về QĐT vẫn mang tính định tính, chưa có tiêu chí cụ thể đánh giá hoạt động của QĐT dẫn đến đưa ra các giải pháp chung, chưa có nhiều tính thực tiễn. Những “khoảng trống” trên đây của các công trình nghiên cứu đã gợi cho em những hướng nghiên cứu mới trong đề tài luận văn nghiên cứu của mình đó là bổ 13 sung thêm các chỉ tiêu định lượng để đánh giá hoạt động của quỹ mở từ đó đưa ra các giải pháp toàn diện về hoàn thiện cơ chế pháp lý, phát triển hệ thống kênh phân phối, nâng cao chất lượng CTQLQ và các tổ chức dịch vụ liên quan. 14 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN DẠNG MỞ 2.1 Cơ sở lý luận về quỹ đầu tư chứng khoán 2.1 Khái niệm và lợi ích khi đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán 2.1 Khái niệm về quỹ đầu tư chứng khoán Trên thị trường tài chính, quỹ đầu tư (QĐT) là loại hình trung gian tài chính tăng trưởng rất nhanh và là kênh đầu tư vốn quan trọng cho các nhà đầu tư (NĐT) trên thị trường chứng khoán (TTCK), đặc biệt là các TTCK mới nổi đang phát triển. QĐT có nhiều cách tiếp cận như sau: Theo Luật Công ty đầu tư 1940 của Mỹ thì “QĐT là các tổ chức tài chính được quản lý chặt chẽ và phải tuân theo các điều luật và quy chế của Liên bang và các Tiểu bang”.
Theo từ điển Banking and Informationtics thì “QĐT là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ nhiều nguồn khác nhau để đầu tư vào các loại tài sản như cổ phiếu, trái phiếu và tiền tệ. Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ (CTQLQ), ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác”. Theo Điều 3 Luật Chứng khoán Việt Nam thì “QĐT chứng khoán là quỹ được hình thành từ vốn góp của các NĐT với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó NĐT không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Khi tham gia vào quỹ, các NĐT sẽ nhận được chứng chỉ quỹ (CCQ) là loại chứng khoán do CTQLQ đại diện phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT đối với tài sản hoặc vốn góp của quỹ theo tỷ lệ tương ứng với số đơn vị quỹ của NĐT trong vốn điều lệ”.
Trên thế giới, việc đầu tư vào các QĐT chứng khoán từ lâu đã trở thành một kênh đầu tư rất phổ biến và được ưa chuộng, đồng thời QĐT còn là một bộ phận cấu thành quan trọng, góp phần vào sự phát triển của TTCK và nền kinh tế nói chung. Các QĐT sẽ có vòng đời xác định được ghi rõ trong Bản cáo bạch, thường là 10 hoặc 20 năm. Hết thời hạn này, quỹ có thể được gia hạn hoạt động hoặc giải thể. 15 Vốn điều lệ quỹ là số vốn bằng tiền do tất cả các NĐT thực góp và được ghi trong điều lệ quỹ.2 Lợi ích khi đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán Đầu tư“thông qua QĐT có những lợi ích sau: - Phân tán rủi ro: QĐT có thể đầu tư vào nhiều“loại chứng khoán của các ngành công nghiệp khác nhau theo mục tiêu của quỹ.
Việc sở hữu một nhóm các loại chứng khoán khác nhau dù không loại bỏ hoàn toàn các rủi ro tiềm ẩn nhưng có thể giúp hạn chế rủi ro do giá của mỗi loại chứng khoán khác nhau có thể bù đắp cho nhau và tối ưu hóa lợi nhuận.” - Đủ khả năng đầu tư: NĐT có thể“đầu tư gián tiếp vào các công ty lớn (blue-chips) hoặc sở hữu nhiều loại chứng khoán khác nhau với mức vốn tối thiểu thông qua việc sở hữu CCQ.” - Giảm thiểu chi phí đầu tư:“Một trong những nhân tố quan trọng khiến hình thức QĐT hấp dẫn các NĐT đó là chi phí đầu tư. Sự so sánh có thể khác nhau, nhưng với các NĐT vừa và nhỏ thường phải trả chi phí đầu tư nhiều hơn một QĐT trong việc thực hiện mua bán chứng khoán trong một danh mục đầu tư. Lý do là chi phí giao dịch trong hầu hết các thị trường từ trước đến nay đều có liên quan chặt chẽ với quy mô giao dịch. Chi phí giao dịch của các NĐT cá nhân đối với các khoản mua bán nhỏ thường cao hơn nhiều vì giá trị của mỗi giao dịch họ thực hiện nhỏ hơn nhiều so với các QĐT khi họ giao dịch với số lượng chứng khoán lớn hơn.” - Quản lý chuyên nghiệp:“Quản lý đầu tư đòi hỏi phải tiêu tốn thời gian, nguồn lực và năng lực chuyên môn cao, điều mà hầu hết những NĐT cá nhân không thực hiện được.
Khi đầu tư vào quỹ tức là NĐT đang thuê những nhà quản lý chuyên nghiệp thực hiện các công việc mua, bán và giám sát các khoản đầu tư của mình.” - Bảo vệ NĐT:“Hoạt động của quỹ được điều chỉnh và giám sát bởi UBCKNN và SGDCK. Tài sản của quỹ luôn được giám sát bởi ngân hàng giám sát và báo cáo định kỳ. Tính minh bạch được bảo đảm nhờ hệ thống báo cáo rõ ràng, đầy đủ từ các CTQLQ.2 Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán 2.1 Đối với nền kinh tế Để“phát triển bền vững nền kinh tế rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn, QĐT tạo ra các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư.