Chương I: Cơ sở mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản Chương II: Thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản từ năm 2006 đến nay Chương III: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới Nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản là một đề tài không mới, tuy nhiên luận văn đi sâu nghiên cứu mối quan hệ này trong một khoảng thời gian ngắn từ năm 2006 đến hết tháng 6 năm 2014 nên đòi hỏi tính cập nhật và sự phân tích, đánh giá về quan hệ kinh tế nói riêng và quan hệ đối ngoại giữa hai nước nói chung. Tuy có nhiều nguồn tài liệu phong phú nhưng với tầm nhìn còn hạn chế, sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, học viên hi vọng sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu của quý thầy cô, các nhà khoa học và các bạn học viên có quan tâm để đề tài được hoàn thiện và có giá trị tham khảo cũng như nghiên cứu. Trang 11 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 1. Các điều kiện tiền đề 1. Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên Nhật Bản có một vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên không thuận lợi. Nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương và ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất, Nhật Bản thường xuyên phải chịu các động đất và sóng thần.
Vụ sóng thần khủng khiếp gần đây nhất xảy ra ngày 11/03/2011 đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề với gần 16.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương và hơn 2.600 người mất tích. Về địa hình, 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản là núi non trong đó có không ít ngọn núi là núi lửa. Đây là loại địa hình không thích hợp cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và cư trú. Nhật Bản lại là nước đặc biệt nghèo tài nguyên thiên nhiên ngoại trừ gỗ và hải sản.
Từ các loại khoáng sản như như quặng sắt, đồng đỏ, kẽm, chì và bạc đến các tài nguyên năng lượng quan trọng như dầu mỏ và than Nhật Bản đều phải nhập khẩu. Từ giữa những năm 70, để bộ máy công nghiệp hoạt động bình thường, Nhật Bản phải nhập phần lớn các loại khoáng sản, kim loại, có loại nhập khẩu 100% như dầu lửa, uranium [12]. Càng thực hiện công nghiệp hóa cao độ, Nhật Bản càng cần đến một khu vực có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mình. Khu vực đầy tiềm năng đó là Châu Á – Thái Bình Dương mà cửa ngõ đi vào khu vực này là Đông Nam Á.
Đối với toàn khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chiếm một vị trí đặc biệt. Nằm giữa một khu vực “Ấn Trung” bao gồm Myanma, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia và Philippin, Indonesia, từ xưa Việt Nam đã là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa lớn: văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Quốc. Hiện nay, trên bình diện chính trị và quân sự, Việt Nam được coi là quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu ở khu vực. Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam là cầu nối quan trọng giữa Đông Á – Nam Á và các quần đảo khác trong khu vực Thái Bình Dương với vị trí án ngữ các con đường giao thông và là cửa ngõ đi vào lục địa Đông Nam Á.
Việt Nam còn là nước có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú về cả tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên du lịch và nhiều loại khoáng sản và Trang 12 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. trở thành một trong những nước xuất khẩu tài nguyên. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cơ bản vẫn ở dạng thô, chưa được chế biến tinh nên giá trị xuất khẩu chưa cao.
Hơn nữa, việc tập trung khai thác tài nguyên để xuất khẩu hiện nay đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thất thoát lãng phí tài nguyên, chảy máu tài nguyên và đánh mất các cơ hội phát triển những ngành công nghiệp quan trọng, những lĩnh vực phụ trợ và làm triệt tiêu động lực phát triển khoa học công nghệ trong nước. Một đất nước Nhật Bản với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên cũng như tài nguyên thiên nhiên không thuận lợi, từ rất sớm phải phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu từ các nguyên, nhiên liệu cơ bản đến khí đốt và lương thực thực phẩm và một nước Việt Nam với vị trí địa lý chiến lược và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng sẽ là những đối tác quan trọng của nhau, cùng khai thác những lợi ích kinh tế và cả lợi ích chính trị an ninh khu vực. Điều kiện kinh tế hai nước Điều kiện kinh tế Việt Nam Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Năm 1986 Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định. Hiện nay, Việt Nam là nền kinh tế đứng thứ 6 trong số 10 quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 128 thế giới xét theo tổng sản phẩm bình quân đầu người. Việt Nam chủ trương xây dựng một hệ thống kinh tế thị trường, tính đến tháng 4/2014 đã có 45 quốc gia trên thế giới tuyên bố công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam trong đó có Nhật Bản [31]. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để đẩy mạnh và phát triển hơn nữa nhằm tiến tới mục tiêu “đến năm 2020 về cơ bản Việt Nam là nước công nghiệp phát triển”, ngoài việc phát huy nội lực Việt Nam cần phải dựa vào sự hợp tác với nước ngoài, nhất là các quốc gia có trình độ khoa học công nghệ phát triển như Nhật Bản.
Thứ nhất, Việt Nam rất cần nguồn vốn từ Nhật Bản. Do đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá rút ngắn nên nhu cầu vốn đầu tư của Việt Nam càng cao. Nhật Bản lại là đầu nguồn của dòng vốn đầu tư. Thứ hai, hiện trạng trình độ công nghệ của Việt Nam rất thấp so với các nước trong khu vực.
Để đẩy Trang 13 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc xây dựng hạ tầng công nghệ hiện đại là rất cần thiết. Hơn nữa khoa học công nghệ lạc hậu sẽ lại là bất lợi trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư.
Chính vì vậy, cần mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia phát triển, là đầu nguồn của dòng vốn và công nghệ như Nhật Bản. Thứ ba là thị trường xuất nhập khẩu. Với việc đẩy mạnh chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu, nhu cầu về thị trường bên ngoài ngày càng gia tăng cùng với hướng tăng trưởng của nền kinh tế. Trong thời gian vừa qua Nhật Bản thể hiện là thị trường quan trọng hàng đầu trong xuất khẩu của Việt Nam thể hiện ở tỉ trọng hàng xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Nhật Bản ngày càng tăng với các mặt hàng chủ yếu là dầu thô, may mặc, thủy hải sản.
Bên cạnh đó Việt Nam cũng cần nhập khẩu hàng hoá từ thị trường Nhật Bản nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước đặc biệt là máy móc thiết bị công nghệ bởi đây cũng chính là đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều kiện kinh tế Nhật Bản Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1951) phát triển cao độ (1952-1973) làm thế giới phải kinh ngạc. Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản". Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc).
Trước đây Nhật Bản luôn giành vị trí thứ hai về kinh tế và mới chỉ bị Trung Quốc vượt qua từ đầu năm 2011. Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, Nhật Bản có nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Trên thực tế, Nhật Bản là một trong những quốc gia hàng đầu trong thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Quá trình bành trướng kinh tế thông qua FDI của Nhật được thực hiện ngay từ những năm 1950, song quy mô và tốc độ tăng mạnh là thời kỳ những năm 1970, 1980 và đặc biệt là từ năm 1985 đến nay.
Quá trình đồng yên tăng giá cùng với chính sách tự do hoá và ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao trong nước nhiều công ty Nhật đã gia tăng chuyển các cơ sở, những ngành sản xuất cần Trang 14 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107. nhiều lao động ra nước ngoài. Điều này vừa cho phép Nhật Bản phát huy những ưu thế về công nghệ đồng thời tận dụng được nguồn lao động giá rẻ ở các quốc gia bản địa, khai thác tài nguyên thu lợi nhuận đồng thời tạo nguồn sản phẩm cung cấp phục vụ thị trường trong nước.
Các nước ASEAN luôn đứng đầu danh sách các nước tiếp nhận đầu tư của Nhật Bản với nguồn vốn chủ yếu tập trung vào cơ sở hạ tầng và khai thác các nguồn nguyên nhiên liệu, và trong những năm gần đây ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo. Trong quan hệ với Việt Nam, Nhật nhìn nhận Việt Nam là thị trường đầu tư tiềm năng còn ít được khai thác so với các quốc gia lân cận. Nhật có nguồn tài chính lớn cần nơi đầu tư. Việt Nam có thể tiếp nhận vốn và kỹ thuật của Nhật Bản để đầu tư xây dựng các ngành công nghiệp của mình.
Dân cư, nguồn lao động Nhật Bản tuy nghèo về tài nguyên thiên nhiên nhưng lại rất giàu về nguồn nhân lực con người. Dân số Nhật Bản hiện nay có khoảng 127 triệu người đứng thứ 10 thế giới (2010) với trình độ dân trí cao. Ngay từ những năm 70, 100% dân số Nhật Bản đã biết chữ.