CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG I. NỘI DUNG CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG: 1. Một số khái niệm cơ bản: Trong khoảng 20 năm trở lại đây việc đa lao động của một quốc gia ra khỏi phạm vi của nớc đó để làm việc đã trở nên quen thuộc với số lợng ngày càng tăng.Đó là do sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang có những chuyển biến về chất và không đoòng đều giữa các nớc dựa trên cơ sở phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật.Thực tế cho thấy, sức lao động của các quốc gia có d thừa lao động đến giai đoạn hiện nay đã đợc xem nh là một loại hàng hoá có thể mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho ngân sách quốc gia. Do vậy để nghiên cứu về xuất khẩu lao động trớc hết cần phải tìm hiểu và làm rõ các khái niệm có liên quan: - Nguồn lao động: Là bộ phận dân c gồm những ngời trong độ tuổi lao động (không kể những nguời mất khả năng lao động) và những ngòi ngoài tuổi lao động nhng thực tế có tham gia lao động.
Nguồn lao động bao gồm những ngời từ độ tuổi lao động trở lên (ở nớc ta là tròn 15 tuổi). - Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngời nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con ngời. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và t liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con ngời.Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. - Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con ngời trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con ngời, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hoá sức lao động là một hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng các hàng hoá khác, ngoài ra hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có t duy, có đời sống tinh thần. Thông qua thị trờng lao động, sức lao động đợc xác định giá cả. Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật cung – cầu của thị trờng. Mức cung cao sẽ dẫn tới d thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp, ngợc lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao động sữ trở nên cao hơn.
- Thị trờng lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trờng lao đông. Trong nền kinh tế thị trờng, ngời lao đông muốn tìm việc phải thông qua thị trờng lao động. Về mặt thuật ngữ, "Thị tròng lao đông" thực chất phải đợc hiểu là "Thị trờng sức lao động" để phù hợp với khái niệm của tổ chức lao động quốc tế: Thị trờng lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động đợc xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê mớn sức lao động. Trên thị trờng lao động, mối quan hệ đợc thiết lập giữa một bên là ngời lao động và một bên là ngời sử dụng lao động.
Qua đó, cung-cầu về lao đọng ảnh hởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao động cũng ảnh hởng tới cung- cầu lao động. + Cầu lao động: là lợng lao động mà ngời thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận đợc. Nó mô tả toàn bộ hành vi ngời mua có thể mua đợc hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra. Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động, khi giá cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu về lao động giảm hoặc tăng.
+ Cung lao động: là lợng lao động mà ngời làm thuê có thể chấp nhận đợc ở mỗi mức giá nhất định. Giống nh cầu và lợng cầu, đờng cung lao động mô tả toàn bộ hành vi của ngời đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá đặt ra. Cung lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả. Khi giá cả tăng thì lợng cung lao động tăng và ngợc lại.
Xuất khẩu lao động trên thị trờng lao động quốc tế đợc thực hiện chủ yếu dựa vào quan hệ cung - cầu lao động. Nó chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật kinh tế thị trờng. Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhập khẩu lao động từ đod cần phải xác định chặt chẽ số lợng, cơ cấu, chất lợng lao động hợp lý. Mặt khác, bên cung có mong muốn xuất khẩu càng nhiều lao động càng tốt.
Do vậy, muốn cho loại hàng hoá đặc biệt này chiếm đựơc u thế trên thị trờng lao động, bển cung phải có sự chuẩn bị và đầu t để đợc thị trờng chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời các yêu cầu về số lợng, cơ cấu và chất lợng lao động cao. Thị trờng lao động nớc ta hiện nay tuy đã hình thành song phạm vi còn nhỏ hẹp. Để phù hợp với sự phát triển quá nhanh của nguồn lao động trớc hết thị trờng lao động phải đợc mở rộng cả trong và ngoài nớc, đồng thời tạo điều kiện cho ngời lao động có quyền bình đẳng, tự do tìm việc làm, thuê mớn lao động theo pháp luật. - Di dân quốc tế: Di dân quốc tế đợc hiểu là quá trình di chuyển lao động từ nớc này sang nứoc khác để tìm việc làm.
Nếu xét theo khía cạnh dân số học thì xuất khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế. Do đó,việc đa nguời lao động đi làm việc ở nớc ngoài chính là tham gia vào quá trình di dân quốc tế, nó không nằm ngoài những quy luật chung. Việc đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài tuân theo những hiệp định giữa hai quốc gia, đa quốc gia hoặc theo công ớc quốc tế, tuỳ từng trờng hợp khác nhau mà nó đợc xếp nằm trong giới hạn nào. - Xuất khẩu lao động: Đến nay, trên thế giới vẫn cha có một khái niệm chuẩn nào về xuất khẩu lao động.
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu xuất khẩu lao động thông qua khái niệm của tổ chức lao động quốc tế ( ILO) nh sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định đợc sự thống nhất giữa các quốc gia đa và nhận ngời lao động. Phân loại xuất khẩu lao động: Căn cứ vào cơ cấu ngời lao động đa đi: Lao động có nghề: là loại lao động trớc khi ra nớc ngoài làm việc đã đợc đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nớc ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi phí để tiến hành đào tạo nữa. Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nớc ngoài làm việc cha đợc đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với những công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nớc ngoài cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trớc khi đa vào sử dụng.
Căn cứ vào nớc xuất khẩu lao động: Nhóm các nớc phát triển: Có xu hớng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nớc đang phát triển để thu ngoại tệ. Trờng hợp này không phải là chảy máu chất xám mà là đầu t chất xám có mục đích. Việc đầu t nhằm một phần thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác lớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kỹ thuật bậc cao ở nớc ngoài. để thu ngoại tệ.
Nhóm các nớc đang phát triển: có xu hớng gửi lao động bậc trung hoặc bậc thấp sang các nớc có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảm bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nớc. Các hình thức xuất khẩu lao động: Xuất khẩu lao động thực tế đem lại lợi ích thiết thực cho cả ngời lao động và phía Nhà nớc. Nhận thức rõ điều đó Đảng và Nhà nớc ta đã không ngừng đa ra những chủ trơng, chính sách tạo điều kiện cho ngời lao động có cơ hội đi làm việc ở nớc ngoài. Ngày 17 tháng 7 năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2003/NĐ-CP quy định chi tiết về việc đa ngời Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài.
Tại điều 3 khoản 2 Nghị định này quy định rõ các hình thức đa ngời lao động Việt Nam đi làm viẹec có thời hạn ở nớc ngoài, trong đó bao gồm các hình thức cơ bản sau: 2. Thông qua doanh nghiệp Việt Nam đợc phép cung ứng lao động theo hợp đồng ký kết với bên nớc ngoài: Đối tác nớc ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đa ra những yêu cầu cụ thể về số lợng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính.Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế của Việt Nam sau khi nhận đợc đơn đặt hàng của bên nớc ngoài sẽ tiến hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn. Để đảm bảo đúng yêu cầu của mình, bên nớc ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa trớc khi lao động sang làm việc. Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu t ở nớc ngoài.
Bên nớc ngoài đặt hành cho các công trình xây dựng, do vậy phải đa đi đồng bộ các đối tợng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và lao động trực tiếp sang nớc ngoài làm việc. Sau khi công trình kết thúc thì cũng chấm dứt hợp đồng đối với ngời lao động, vì thế xuất khẩu lao động theo hình thức khoán khối lợng công việc thờng không ổn định, tâm lý của ngời lao động dễ bị chán nản, không tận tâm với công việc. Theo hợp đồng lao động do cá nhân ngời lao động trực tiếp ký kết với ngời sử dụng lao động ở nớc ngoài (sau đây gọi là hợp đồng cá nhân): Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối tợng lao động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc.