Tổng quan nghiên cứu

Xuất khẩu lao động là một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại và giải quyết việc làm tại Việt Nam, đóng góp nguồn thu ngoại tệ xấp xỉ 2 tỷ USD mỗi năm cho đất nước. Tại tỉnh Hà Tĩnh, tính đến năm 2013 đã có hơn 30.000 lao động làm việc tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Dòng ngoại tệ do lực lượng này chuyển về quê hương duy trì đều đặn từ 70 đến 90 triệu USD mỗi năm, tương đương 1.800 tỷ đồng và chiếm xấp xỉ một phần ba tổng thu ngân sách toàn tỉnh năm 2012. Nguồn lực tài chính này đã trực tiếp thúc đẩy công tác xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao thu nhập bình quân đầu người từ 4,579 triệu đồng năm 2005 lên 15,690 triệu đồng năm 2012.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động tại Hà Tĩnh đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tỷ lệ lao động xuất khẩu qua đào tạo nghề chính quy chỉ đạt khoảng 10%, khiến 90% lực lượng còn lại phải làm việc trong các phân khúc phổ thông có thu nhập thấp và điều kiện bấp bênh. Sự suy giảm chất lượng tay nghề và ngoại ngữ đã kéo theo sự sụt giảm mạnh về quy mô. Trong năm 2013 và 10 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh chỉ đưa được 4.086 người đi làm việc ở nước ngoài, bằng 70% so với năm 2012 và chỉ tương đương một phần ba quy mô giai đoạn trước năm 2010.

Đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động đưa người lao động Hà Tĩnh đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013. Mục tiêu then chốt là xác lập cơ sở khoa học, phân tích những mắt xích hạn chế trong chuỗi quản lý từ tuyển dụng, đào tạo đến bảo hộ và quản lý dòng kiều hối, từ đó kiến nghị các giải pháp đột phá nhằm tái cấu trúc hoạt động xuất khẩu lao động của tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững và gia tăng giá trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết thị trường lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và lý thuyết quản lý nhà nước đối với dịch vụ công. Theo ILO, thị trường lao động quốc tế là không gian diễn ra các quan hệ trao đổi, thỏa thuận dịch vụ sức lao động vượt qua biên giới quốc gia, chịu sự chi phối chặt chẽ bởi quan hệ cung - cầu và sự điều tiết công quyền của các chính phủ. Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động được xác định là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực pháp lý của các cơ quan công quyền nhằm hướng dẫn, điều tiết, kiểm tra các tổ chức kinh tế và cá nhân tham gia vào quy trình cung ứng lao động ra nước ngoài.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm cốt lõi: thị trường lao động quốc tế, xuất khẩu lao động, quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động và tu nghiệp sinh kỹ thuật. Mô hình nghiên cứu phân tích sự vận hành của hệ thống quản lý theo cơ chế kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành dọc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với quản lý theo địa bàn lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thông qua Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các cấp chính quyền cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học cao:

  • Cỡ mẫu khảo sát: Tác giả tiến hành điều tra, thu thập dữ liệu với cỡ mẫu 250 đối tượng, bao gồm 50 cán bộ quản lý thuộc Sở và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tại 12 huyện, thị xã, thành phố; 30 đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động hoạt động trên địa bàn tỉnh; và 170 người lao động đã hoàn thành hợp đồng trở về nước.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho 3 vùng sinh thái - kinh tế đặc thù của tỉnh Hà Tĩnh (vùng đồng bằng ven biển, vùng trung du và vùng miền núi cao). Cơ chế chọn mẫu này đảm bảo phản ánh khách quan sự khác biệt về nhận thức, điều kiện tiếp cận vốn vay ưu đãi và trình độ tay nghề của nguồn nhân lực nông thôn chiếm tới 84,08% dân số.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp logic - lịch sử kết hợp với thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian giai đoạn 2000 - 2013 và phương pháp so sánh đối chiếu với các địa phương lân cận có điều kiện tương đồng như Nghệ An và Bắc Giang. Phương pháp này cho phép nhận diện rõ ràng các biến động tăng trưởng, đánh giá hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 152/1999/NĐ-CP, Nghị định 81/2003/NĐ-CP, Quyết định 1465/QĐ-TTg và Nghị định 95/2013/NĐ-CP trong việc chấn chỉnh hoạt động phái cử.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực chứng và tổng hợp số liệu thứ cấp đã chỉ ra 4 phát hiện căn bản về hoạt động xuất khẩu lao động tại Hà Tĩnh:

  • Hiệu quả kinh tế vượt trội nhưng tiềm ẩn rủi ro cơ cấu: Lực lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài đã chuyển về địa phương từ 70 đến 90 triệu USD mỗi năm trong giai đoạn 2001 - 2010. Dòng tiền kiều hối này trở thành đòn bẩy tài chính quan trọng giúp hàng chục ngàn hộ gia đình thoát nghèo, đầu tư sản xuất kinh doanh và đóng góp vào mức tăng trưởng GDP trung bình 10,02% mỗi năm của tỉnh từ năm 2006 đến 2012.
  • Trình độ tay nghề và ngoại ngữ của nguồn lao động còn rất thấp: Trong tổng số 706.440 người thuộc lực lượng lao động của tỉnh năm 2012, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tham gia xuất khẩu chỉ dừng ở mức 10%. Hơn 90% còn lại là lao động giản đơn, thiếu tác phong công nghiệp. Năm 2012, quy mô đào tạo nghề dài hạn của tỉnh chỉ đạt 4.990 người, trong khi đào tạo ngắn hạn chiếm tới 18.734 người, dẫn đến tình trạng đa phần người lao động không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng khắt khe của các thị trường có thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc CHLB Đức.
  • Quy mô sụt giảm nghiêm trọng trong giai đoạn 2010 - 2014: Nếu như giai đoạn 1995 - 2000 số người đi xuất khẩu lao động tăng đều từ 322 người lên 1.143 người (tăng 255%), và đạt bình quân hàng năm trên 6.000 người trong giai đoạn 2006 - 2010, thì đến giai đoạn 2013 - 2014 con số này giảm mạnh xuống chỉ còn 4.086 người. Sự sụt giảm 30% so với năm 2012 phản ánh rõ rào cản từ việc các thị trường siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật và sự đóng băng tạm thời của chương trình cấp phép việc làm Hàn Quốc (EPS).
  • Quản lý nhà nước ở cấp cơ sở còn lỏng lẻo và thiếu cơ chế hậu kiểm: Hoạt động của các doanh nghiệp phái cử tại các vùng nông thôn chưa được kiểm soát chặt chẽ. Toàn tỉnh có 593,96 nghìn lao động nông thôn (chiếm 84,08% lực lượng lao động năm 2012) nhưng thông tin thị trường chưa minh bạch, để xảy ra tình trạng môi giới bất hợp pháp, thu phí vượt trần quy định và tỷ lệ lao động vi phạm hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài sống lưu vong ở mức đáng báo động.

Thảo luận kết quả

Thực trạng lao động Hà Tĩnh tập trung chủ yếu ở các thị trường chi phí thấp xuất phát từ căn nguyên nền kinh tế thuần nông với thói quen sản xuất nhỏ lẻ, thiếu tính kỷ luật và hạn chế về thể lực. Khi đối chiếu với tỉnh Nghệ An - địa phương đưa được 42.000 lượt lao động xuất cảnh giai đoạn 2006 - 2010 và thu về 90 - 95 triệu USD/năm, hoặc mô hình tại xã Tam Dị (huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) thành lập Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động cấp xã thu về trên 1.500 tỷ đồng năm 2011, bài học kinh nghiệm cho thấy vai trò chủ động của chính quyền địa phương trong việc làm cầu nối giữa ngân hàng, doanh nghiệp uy tín và người dân là yếu tố quyết định.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải biểu diễn thực trạng thông qua hệ thống trực quan hóa khoa học:

  • Mô hình biểu đồ cột kết hợp đường phân tích tương quan: Thể hiện sự phân hóa rõ rệt giữa tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo (chiếm 90%) với tỷ trọng thị phần tiếp nhận. Các thị trường thu nhập trung bình thấp như Malaysia, Đài Loan và Trung Đông chiếm trên 65% thị phần, trong khi các thị trường tiêu chuẩn cao như Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ chiếm dưới 10% tổng số lao động xuất cảnh của tỉnh.
  • Bảng tổng hợp so sánh mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 2006 - 2012: Chỉ ra khoảng cách lớn giữa mục tiêu hành chính đề ra và năng lực đáp ứng thực tế của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

Việc thiếu vắng các chính sách hỗ trợ tái hòa nhập sau khi về nước khiến phần lớn lao động hồi hương không phát huy được kinh nghiệm và kỹ năng tích lũy được ở nước ngoài, dẫn đến lãng phí nguồn lực nhân sự chất lượng cao của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển bền vững hoạt động xuất khẩu lao động, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Hoàn thiện quy hoạch chiến lược và phân cấp quản lý đồng bộ: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh chủ trì xây dựng Đề án tổng thể về xuất khẩu lao động giai đoạn 2015 - 2020. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trước khi xuất cảnh từ 10% lên tối thiểu 40% vào năm 2020, đưa quy mô xuất khẩu đạt từ 7.000 đến 8.000 người mỗi năm.
  • Chuẩn hóa mạng lưới đào tạo nghề, ngoại ngữ và giáo dục định hướng: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo Trường Cao đẳng Nghề Hà Tĩnh và các trung tâm giáo dục thường xuyên liên kết với doanh nghiệp phái cử nhằm đổi mới giáo trình. 100% người lao động trước khi xuất cảnh phải hoàn thành tối thiểu 300 giờ đào tạo tiếng và kỹ năng văn hóa doanh nghiệp sở tại, phấn đấu hạ tỷ lệ lao động vi phạm hợp đồng xuống dưới mức 1,5%.
  • Đa dạng hóa và tái cơ cấu thị trường tiếp nhận lao động: Sở Ngoại vụ phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đẩy mạnh xúc tiến, tìm kiếm các thị trường có điều kiện làm việc tốt và thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và các nước Bắc Âu. Đặt mục tiêu nâng thị phần tại các thị trường thu nhập cao đạt mức 25% tổng lượng lao động xuất khẩu của tỉnh vào năm 2020.
  • Siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra và bảo vệ quyền lợi người lao động: Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an tỉnh tổ chức thanh tra định kỳ 100% doanh nghiệp và văn phòng đại diện hoạt động tuyển dụng trên địa bàn. Kiên quyết xử lý, đình chỉ và công khai danh tính các đơn vị thu phí trái phép vượt khung Thông tư 21/2013/TT-BLĐTBXH.
  • Xây dựng cơ chế tài chính ưu đãi và chương trình hỗ trợ tái hòa nhập: Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Hà Tĩnh mở rộng hạn mức cho vay tín chấp đối với hộ nghèo, gia đình chính sách theo Quyết định 440/2001/QĐ-NHNN. Đồng thời, Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh thành lập cơ sở dữ liệu kết nối 70% đến 80% lao động hồi hương với các doanh nghiệp tại Khu kinh tế Vũng Áng và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, huyện và xã: Cán bộ thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Ngoại vụ và Ủy ban nhân dân 12 huyện, thị xã, thành phố tại Hà Tĩnh có thể sử dụng luận văn làm cơ sở lý luận và thực tiễn để ban hành các văn bản chỉ đạo, xây dựng đề án tạo việc làm và thiết lập quy trình quản lý tuyển dụng chặt chẽ tại địa phương.
  • Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ đưa người lao động đi nước ngoài: Lãnh đạo và chuyên viên tuyển dụng của các doanh nghiệp phái cử có thể khai thác các số liệu phân tích về đặc điểm tâm lý, thể lực và trình độ của 593,96 nghìn lao động nông thôn Hà Tĩnh để xây dựng chương trình đào tạo nguồn và tuyển chọn nhân sự phù hợp.
  • Các trường cao đẳng, trung cấp nghề và trung tâm dịch vụ việc làm: Ban giám hiệu và giảng viên các cơ sở đào tạo nghề có thể tham khảo để điều chỉnh khung chương trình giảng dạy, đưa các module kỹ năng mềm, ngoại ngữ chuyên ngành và tác phong công nghiệp vào đào tạo thực hành cho học viên.
  • Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu kinh tế: Các nhà khoa học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển có thể kế thừa khung phân tích, phương pháp khảo sát thực chứng và hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian để mở rộng nghiên cứu về dịch chuyển lao động quốc tế tại khu vực Bắc Trung Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ lao động xuất khẩu qua đào tạo của Hà Tĩnh chỉ đạt mức 10%?

Nguyên nhân chủ yếu do xuất phát điểm kinh tế thuần nông với hơn 84,08% lực lượng lao động tập trung ở khu vực nông thôn. Người lao động có xu hướng lựa chọn các công việc phổ thông để xuất cảnh nhanh mà không qua các khóa học nghề dài hạn. Bên cạnh đó, hệ thống các trường nghề trên địa bàn giai đoạn 2008 - 2012 chỉ đào tạo dài hạn được khoảng 4.300 đến 5.000 học viên mỗi năm, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường xuất khẩu.

Dòng tiền kiều hối đóng góp như thế nào vào cơ cấu kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh?

Trong giai đoạn 2001 - 2010, nguồn kiều hối hàng năm đạt từ 70 đến 90 triệu USD, quy đổi tương đương 1.800 tỷ đồng. Con số này xấp xỉ bằng một phần ba tổng thu ngân sách nội địa toàn tỉnh năm 2012, trực tiếp hỗ trợ hàng chục nghìn gia đình trả nợ vay ngân hàng, cải thiện nhà ở và nâng thu nhập bình quân đầu người của tỉnh lên mức 15,690 triệu đồng năm 2012.

Tỉnh Hà Tĩnh gặp phải thách thức lớn nhất nào tại các thị trường lao động cao cấp?

Thách thức lớn nhất là rào cản ngoại ngữ, tính kỷ luật lao động và tỷ lệ người lao động tự ý phá vỡ hợp đồng, bỏ trốn cư trú bất hợp pháp còn cao. Điều này dẫn đến việc nhiều chương trình hợp tác quốc tế, tiêu biểu như chương trình EPS tại Hàn Quốc, bị gián đoạn tiếp nhận lao động từ một số địa phương thuộc tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013 - 2014.

Chính sách quản lý tài chính đối với người đi xuất khẩu lao động được áp dụng ra sao?

Các cơ quan quản lý áp dụng Thông tư 21/2013/TT-BLĐTBXH quy định mức trần ký quỹ và Quyết định 1465/QĐ-TTg về ký quỹ thí điểm đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc với mức 100 triệu đồng. Đồng thời, Ngân hàng Chính sách Xã hội hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi tối đa 80% chi phí cần thiết cho các đối tượng thuộc diện chính sách và hộ nghèo.

Giải pháp nào giúp giải quyết việc làm cho lao động Hà Tĩnh sau khi hoàn thành hợp đồng về nước?

Luận văn đề xuất giải pháp xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu lao động hồi hương gắn với nhu cầu tuyển dụng của các dự án lớn tại Khu kinh tế Vũng Áng và các khu công nghiệp của tỉnh. Đồng thời, tỉnh cần áp dụng chính sách khuyến khích hỗ trợ vay vốn sản xuất kinh doanh nhằm chuyển đổi vốn kiều hối thành vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa phương.

Kết luận

  • Xuất khẩu lao động là trụ cột kinh tế đối ngoại mang lại nguồn thu ngoại tệ 70 - 90 triệu USD mỗi năm, giữ vai trò quan trọng trong chiến lược giải quyết việc làm cho 706.440 người trong độ tuổi lao động của Hà Tĩnh.
  • Tồn tại điểm nghẽn cốt tử về chất lượng nhân lực khi 90% lao động chưa qua đào tạo nghề chính quy, dẫn đến quy mô xuất khẩu giảm 30% trong giai đoạn 2013 - 2014.
  • Hiệu lực quản lý nhà nước đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản từ quản lý số lượng sang chuẩn hóa chất lượng tay nghề, ngoại ngữ và tăng cường kỷ luật lao động.
  • Giai đoạn 2015 - 2020 cần tập trung tái cấu trúc thị trường, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40%, gắn kết công tác xuất khẩu với việc làm hậu xuất khẩu tại các khu kinh tế trọng điểm.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý và cộng đồng học thuật cần tiếp tục khai thác các phát hiện của luận văn để hoàn thiện khung thể chế quản lý lao động di cư, đảm bảo tối đa quyền lợi kinh tế và an sinh xã hội cho người lao động.