CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động 1. Khái niệm về xuất khẩu lao động Nhằm phát huy tốt đa các mặt tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực do di chuyển lao động (LĐ) quốc tế mang lại, nước xuất khẩu tiến hành quản lý, hỗ trợ cho phép các tổ chức đưa LĐ hoặc cho phép cá nhân người LĐ ra nước ngoài làm việc, đây chính là hoạt động xuất khâu lao động (XKLĐ). XKLĐ là hoạt động mang tính kinh tế - xã hội (KT-XH) đem lại lợi ích không chỉ cho quốc gia xuất khẩu mà cả quốc gia nhập khẩu cũng như các bên tham gia như: tổ chức dịch vụ XKLĐ, người LĐ và chủ sử dụng LĐ.
Hay hiểu theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng “XKLĐ là quá trình đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài hợp pháp được quản lý và hỗ trợ của nhà nước theo hợp đồng của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, các tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, hợp đồng nâng cao tay nghè, hoặc theo hợp đồng giữa cá nhân người lao động và chủ sử dụng lao động” [6]. Người lao động khI ra nước ngoài làm việc thì gọi là LĐ xuất cư, nước mà họ ra đi được gọi là nước xuất cư. Người LĐ khi đến nước khác gọi là LĐ nhập cư và nước tiếp nhận gọi là nước nhập cư. Vậy, XKLĐ là sự di chuyển LĐ quốc tế có thời hạn, có tổ chức vì mục đích kinh tế, được luật cho phép, dưới sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước.
Xuất khẩu lao động là một loại hình dịch vụ đặc biệt, tính chất đặc biệt thể hiện ở chổ đây là hoạt động xuất khẩu “Sức lao động”. Sức lao động của con người là một hàng hóa đặc biệt, do con người là chủ sở hữu và được con người toàn quyền sử dụng và định đoạt trong mua bán trên thị trường trong nước và quốc tế. Mặt khác, cùng với người lao động, các tổ chức XKLĐ vừa là đối tượng bị quản lý của 6 Nhà nước, lại vừa là chủ thể của hoạt động XKLĐ, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và quản lý người lao động, chịu sự điều chỉnh đan xen của nhiều lĩnh vực pháp luật. Do đó, XKLĐ là hoạt động liên quan đến con người.
Nói các khác, XKLĐ là hoạt động KT-XH phức tạp và nhạy cảm. Các hình thức xuất khẩu lao động Hiện nay xuất khẩu lao động được thực hiện theo nhiều hình thức sau: Căn cứ vào hợp đồng đưa lao động ra nước ngoài: XKLĐ được thực hiện thông qua hiệp định giữa các Chính phủ; theo hợp đồng giữa các doanh nghiệp XKLĐ; Hình thức thầu bao công trình, đầu tư nước ngoài; Hợp đồng nâng cao tay nghề và theo hơp đồng đơn lẻ của người lao động với chủ sử dụng lao động. Căn cứ vào không gian di chuyển của người lao động: XKLĐ trực tiếp là việc di chuyển lao động có tổ chức, có thời hạn, từ nước này đến nước khác để làm việc kèm theo thay đổi chổ ở, là hình thức chủ yếu trong trao đổi quốc tế sức lao đọng hiện nsy; XKLĐ giáp ranh là hiện tượng NLĐ của các nước có chung biên giới qua lại để kiếm việc làm, nhưng không kèm theo thay đổi chổ ở tạm thời hy vĩnh viễn; XKLĐ tại chổ là NLĐ làm việc ngy trên nước mình trong các khu chế xuất, khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.; XKLĐ phi chính thức là người lao động ra nước ngoài tìm việc làm bất hợp pháp, hình thức này chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng rủi ro cho NLĐ rất cao. Căn cứ vào chất lượng lao động xuất khẩu: XKLĐ có tay nghề hay còn gọi là xuất khẩu chuyên gia, kỹ thuật viên, lao động lành nghề; Xuất khẩu lao động tay nghề thấp hoặc không có tay nghề hay còn gọi là XKLĐ phổ thông.
Hướng di chuyển của hai loại lao động này cũng khác nhau. Trong khi lao động có tay nghề thường di chuyển song hành với luồng vốn đầu tư từ nước phát triển đến những nước kém phát triển hơn thì lao động phổ thông lại có hướng di chuyển ngược lại từ những nước kém phát triển đến những nước phát triển hơn. Các hình thức xuất khẩu lao động của Việt Nam Hiện nay, căn cứ vào Luật lao động (2008) thì XKLĐ của Việt Nam được tiến hành theo các hình thức sau: -Thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động 7 đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. - Thông qua các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
- Thông qua hình thức đưa tu nghiệp sinh, thực tâp sinh đi thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài. - Theo hợp đồng cá nhân NLĐ trực tiếp ký kết với chủ sử dụng lao động nước ngoài. Vai trò của xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nó có tác động không chỉ tích cực mà cả tiêu cực không chỉ đối với nước xuất cư mà cả nước nhập cư. Các tác động tích cực đối với nước xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động có nhiều tác động tích cực đối với sự phát triển của nước xuất khẩu lao động như: Đóng góp vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Tạo công ăn việc làm; Phát triển nguồn nhân lực; Góp phần vào ổn định xã hội, an ninh quốc phòng; Thực hiện chính sách xã hội; Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; Tăng cường giao lưu văn hóa và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
- Đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội XKLĐ góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước được phản ánh trên hai phương diện: Một là, toàn dụng nguồn nhân lực đất nước làm tăng thu nhập quốc gia, XKLĐ tạo cơ hội cho một bộ phận lao động thất nghiệp hoặc thiếu việc làm có cơ hội sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ ở nước khác làm tăng thu nhập cho người lao động, gia đình họ, tăng doanh thu cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động (DN XKLĐ), tạo chuyển biến mới về phân công LĐ xã hội cả về chiều rộng, từng bước theo chiều sâu; Hai là, nâng cao tiềm lực của nền kinh tế thể hiện ở cơ sở vật chất, khả năng tích luỹ nội bộ của nền kinh tế thông qua các khoản thu ngân sách từ người lao động, DN XKLĐ và các tổ chức hỗ trợ khác. Xuất khẩu lao động làm tăng cầu lao động trên thị trường lao động nước xuất 8 khẩu dẫn đến làm giảm sự căng thẳng quan hệ cung, cầu lao động tạo áp lực tăng thu nhập cho người lao động đưa đến mặt bằng thu nhập của người lao động nước xuất cư tiến gần hơn mặt bằng thu nhập ngoài nước, từ đó làm tăng thu nhập cho người lao động và xã hội, góp phần tăng sức mua, tăng cầu, mở rộng thị trường hàng hóa và tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ phát triển. - Góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Dưới tác động của các quy luật kinh tế và vai trò chủ động quản lý, điều tiết, định hướng kinh tế vĩ mô của Nhà nước, XKLĐ có sức lan tỏa nhanh trong nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu LĐ và kinh tế theo ngành, theo vùng, theo hướng mở. + Theo cơ cấu nghề: Thông qua XKLĐ tay nghề của một bộ phận người lao động được nâng lên nhờ được đào tạo, đào tạo lại khi làm việc ở nước ngoài, từ đó góp phần hình thành đội ngũ công nhân có chuyên môn kỹ thuật hiện đại, có trình độ ngoại ngữ và tác phong công nghiệp đáp ứng một phần nhu cầu đòi hỏi của các nhà đầu tư theo chiều sâu tạo nên sự chuyển dịch kinh tế theo cơ cấu nghề.
- Tạo việc làm, góp phần ổn định xã hội, an ninh-quốc phòng: Hàng năm xuất khẩu lao động giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, không những lao động đi làm việc ở nước ngoài theo chương trình xuất khẩu lao động mà cả lao động của doanh nghiệp, các trung tâm giới thiệu việc làm, các trường đào tạo khi tham gia thực hiện chương trình xuất khẩu lao động. Số lao động được đưa ra nước ngòai làm việc hiện nay phần lớn là ở nông thôn, đang thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp. Chính lực lượng này khi được đưa đi làm ở nước ngoài với mức thu nhập hợp lý đã góp phần làm ổn định tình hình, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, ổn định xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng. - Góp phần giải quyết chính sách xã hội: Nhà nước sử dụng XKLĐ như là công cụ để giải quyết các vấn đề xã hội như giải quyết công ăn việc làm, nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, chính sách với gia đình có công với cách mạng, con em gia đình thương binh liệt sỹ….
nhằm ưu tiên con em các đối tượng này được tham gia XKLĐ, nhất là những thị trường có thu nhập tốt, tuyển dụng với số lượng hạn chế. Ngoài ra người lao động khi trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài còn được đài 9 thọ một phần tiền đào tạo nghề, học ngoại ngữ và giáo dục định hướng, được các ngân hàng thương mại, nhất là Ngân hàng Chính sách-Xã hội cho vay ưu đãi với mức lãi suất thấp để lo chi phí trước khi xuất cảnh. - Góp phần phát triển nguồn nhân lực đất nước: Nhờ XKLĐ mà nhà nước quan tâm và có chính sách đào tạo, đào tạo lại cho một bộ phận LĐ làm cho chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện. Đại đa số người LĐ khi đi làm việc ở nước ngoài có điều kiện nâng cao khả năng chuyên môn, tay nghề….
Thông qua XKLĐ người lao động đến làm việc tại các nhà máy xí nghiệp với công nghệ tiên tiến, tác phong công nghiệp hiện đại, quản lý sản xuất khoa học, có điều kiện tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Vì vậy, sau khi kết thúc thời gian làm việc ở nước ngoài trình độ tay nghề, tác phong, kỹ luật lao động, ngoại ngữ, hiểu biết của người lao động được nâng lên rõ rệt, tạo nên một đội ngũ lực lượng lao động chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đất nước.