CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐÔNG BẮC Á 1. Khái quát về xuất khẩu lao động 1. Một số quan điểm, khái niệm liên quan đến xuất khẩu lao động - Sức lao động: Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được thừa nhận là một loại hàng hóa với vai trò là một yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất, được đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường ở cả trong và ngoài nước, tạo ra sự di chuyển quốc tế của hàng hóa sức lao động và hình thành hoạt động mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa sức lao động giữa các nước. Sức lao động thì luôn gắn liền với người lao động, do đó hoạt động mua bán hay xuất nhập khẩu hàng hóa sức lao động trên phạm vi quốc tế luôn gắn với sự di chuyển của người lao động (Lưu Văn Hưng, 2011, tr.
Trên thị trường lao động, giá cả hàng hóa sức lao động cũng tuân theo quy luật cung cầu thị trường để xác định giá cả. Và do có sự phát triển không đồng đều trong một quốc gia và mỗi quốc gia có nguồn nhân lực khác nhau vì vậy trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia hình thành thị trường lao động. - Thị trường lao động và thị trường lao động quốc tế + Thị trường lao động là nơi mà người có nhu cầu tìm việc làm và người có nhu cầu sử dụng lao động trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ lao động thông qua các hình thức xác định giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện thỏa thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội, v.v…) trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác. (Đoàn Minh Duệ, 2011, tr.18) + Thị trường lao động quốc tế: Là nơi diễn ra quan hệ mua bán sức lao động giữa các nước trên thế giới.
Người cung cấp và lượng nhu cầu sức lao động không thuộc về cùng một quốc gia, lưu động của sức lao động vượt qua biên giới quốc gia. (Đoàn Minh Duệ, 2011, tr.18) - Di cư quốc tế và di cư lao động quốc tế Luan van 7 + Di cư quốc tế: Chỉ những người di chuyển từ nước này sang nước khác vì nhiều mục đích khác nhau với nhiều đối tượng và lứa tuổi khác nhau, trong đó có một bộ phận là người lao động (Lưu Văn Hưng 2011, tr. Thực tế cho thấy, các quốc gia đang và kém phát triển thường có dân số đông, nguồn cung lao động lớn, thiếu việc làm ở trong nước hoặc có thu nhập thấp trong khi đó ở những nước phát triển với nhu cầu việc làm cao, mức thu nhập cao hơn thì thường có ít dân, hoặc số lượng lao động không đủ đáp ứng nhu cầu, NLĐ không chấp nhận làm việc những ngành nghề có tính chất nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại, v.v… Vì vậy, xuất hiện hiện tượng di cư quốc tế. + Di cư lao động quốc tế: Là sự di chuyển của người lao động từ một nước hay vùng lành thổ này tới một nước hay vùng lãnh thổ khác để làm việc hay có mục đích để tìm việc làm.
Những nước có người lao động di cư ra nước ngoài được gọi là các nước xuất cư, nước XKLĐ. Còn những nước tiếp nhận NLĐ nước ngoài tới làm việc được gọi là nước nhập cư, nước NKLĐ (Lưu Văn Hưng, 2011, tr. Khi thị trường thế giới ngày càng mở rộng việc di cư có cơ hội được thực hiện dễ dàng thông qua quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, các tổ chức kinh tế, di cư lao động quốc tế ngày càng trở thành hiện tượng phổ biến gần với các hoạt động kinh tế xã hội của các quốc gia, từ đó thuật ngữ “xuất khẩu lao động” cũng dần hình thành và được sử dụng một cách rộng rãi. Khái niệm xuất khẩu lao động - Khái niệm của ILO, IOM: Hoạt động XKLĐ là kết quả của sự mất cân bằng giữa nước tiếp nhận và nước gửi lao động, thường là mất cân đối về kinh tế, về khả năng cung - cầu lao động, về sự phân bố tài nguyên, địa lý không đồng đều và sự phụ thuộc vào các chính sách quốc gia.
Các yếu tố này đã tạo nên sự di chuyển hoặc tuyển người lao động từ nước này sang nước khác để bù đắp sự thiếu hụt và dư thừa lao động giữa các nước và khu vực với nhau (IILS&ILO, 2013). Luan van 8 Nhìn ở phạm vi khu vực và thế giới thì hiện tượng XKLĐ ngày nay mang tính toàn cầu. Nhiều quốc gia đều có những chính sách XKLĐ riêng của mỗi nước. Philippines bắt đầu chương trình việc làm ngoài nước từ năm 1974 đến nay vẫn được duy trì, phát triển.
Trong Luật số 8042 có tên “Luật về lao động di cư và người Philippines ở nước ngoài” (1995), XKLĐ được xem là đưa lao động trong nước đi làm thuê ở nước ngoài trong một thời hạn, có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Còn bộ luật lao động của Thái Lan (1985) quan niệm XKLĐ là cho thuê lao động để tạo việc làm ngoài nước và thu nhập ngoại tệ cho NLĐ. Chính phủ Thái Lan cho phép cá nhân tự do đi làm việc ở nước ngoài nhưng phải đăng ký được cấp giấy phép sau khi đã đóng thuế phúc lợi. Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006) định nghĩa người đi XKLĐ là: “là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này”.
Lưu Văn Hưng (2011) cho rằng XKLĐ là: “Hoạt động cung ứng hàng hóa sức lao động từ một nước cho nhu cầu sử dụng ở một nước và vùng lãnh thổ khác theo cơ chế thị trường, trên cơ sở các thỏa thuận mua bán hàng hóa sức lao động giữa NLĐ trong nước với người sử dụng ở nước ngoài có qua hoặc không qua các tổ chức môi giới, có sự quản lý của nhà nước nhằm mục tiêu về kinh tế xã hội. Hoạt động XKLĐ không đơn thuần là sự dịch chuyển lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác mà XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia theo đó NLĐ sẽ sang làm việc tại một quốc gia hay một vùng lãnh thổ khác trong một thời hạn nhất định có sự giám sát, quản lý của Nhà nước (Hà Mạnh Hùng, 2013, tr. Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đi tới một quan niệm tương đối toàn diện về XKLĐ như sau: XKLĐ là một hình thức của phân công lao động quốc tế thuộc lĩnh vực của hợp tác kinh tế quốc tế và là một loại xuất khẩu dịch vụ phi vật thể - hàng hóa sức lao động trên thị trường lao động quốc tế, ở đó người bán sức Luan van 9 lao động và người sử dụng sức lao động ở nước ngoài phải thông qua sự môi giới của các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ XKLĐ. Thực chất của XKLĐ là hoạt động xuất khẩu hàng hóa sức lao động – một loại hàng hóa đặc biệt – bản chất của hoạt động này là việc bán hàng hóa sức lao động trong nước cho nước ngoài sử dụng.
Theo đó, NLĐ thông qua các tổ chức môi giới, hay các tổ chức, doanh nghiệp XKLĐ đi làm thuê cho chủ sử dụng lao động nước ngoài XKLĐ giữa các quốc gia xuất phát từ nhiều nguyên nhân tuy nhiên, mục đích kinh tế có thể nhận thấy rõ nhất là các nước XKLĐ thường là những nước kém phát triển, tỷ lệ thất nghiệp cao, có nguồn lao động dư thừa. Trong khi các nước phát triển có nền kinh tế tăng trưởng cao lại thiếu lao động chính điều này đã làm cho nhu cầu xuất khẩu và nhập khẩu lao động của các nước nảy sinh, tạo nên cung - cầu trên thị trường lao động thế giới. Có thể khái quát một số đặc điểm của hoạt động XKLĐ như sau: - XKLĐ là một đặc thù của kinh tế đối ngoại, tính chất đặc thù của hoạt động XKLĐ trước hết được thể hiện ở chỗ là hoạt động kinh tế nhưng mang tính xã hội sâu sắc. Tính xã hội của hoạt động XKLĐ bắt nguồn từ tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động.
Khác với hàng hóa thông thường, sức lao động còn bao hàm các yếu tố thể chất và tinh thần gắn liền với nền văn hóa và lịch sử nên nó mang tính xã hội sâu sắc; - Với mục đích kinh tế, nhiều nước coi XKLĐ là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn góp phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực tăng tính tích lũy vốn từ nguồn tiền chuyển về nước của NLĐ đi XKLĐ và các khoản thu nhập khác từ dịch vụ này. Các hình thức xuất khẩu lao động 1. Phân loại theo địa lí biên giới giữa các quốc gia Xuất khẩu lao động giáp ranh: Đây là hiện tượng người lao động ở các nước có chung biên giới. Người lao động làm việc tại quốc gia láng giềng, sau đó lại trở về nhà mình để ở, nghĩa là không kèm theo sự thay đổi về chỗ ở.
Hình thức này phổ Luan van 10 biến ở các nước trong liên minh Châu Âu hoặc các nước trong khối ASEAN như Singapore và Malaysia. Xuất khẩu tại chỗ: Theo hình thức này thì người lao động không cần phải ra ngoài phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình. Hình thức này chủ yếu hiện nay là làm việc cho nước ngoài tức là dùng nhân lực tại chỗ để sản xuất chế biến sản phẩm, bán thành phẩm theo yêu cầu của nước ngoài để tạo công ăn việc làm ngay trong nước, tăng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm thông qua các hợp đồng với nước ngoài. XKLĐ tại chỗ hiện nay rất phổ biến, thu hút được một lượng lớn lao động trong nước tham gia đặc biệt là trong khu vực FDI, và các khu vực sản xuất hướng tới xuất khẩu, các khu công nghiệp, chế xuất hay cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Phân loại theo loại hình lao động Lao động làm việc trên biển (thuyền viên): Đây là loại lao động có cường độ làm việc cao, tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro lớn từ lúc rời bến đến khi tàu về cảng. Do vậy, công việc này đòi hỏi thuyền viên phải có thể lực tốt, chịu được sóng gió, có tay nghề và kinh nghiệm, có tác phong sản xuất công nghiệp, có vốn ngoại ngữ khá để thực hiện chuẩn xác mệnh lệnh của thuyền trưởng.