Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - AUSTRALIA 1. Một số cơ sở lý luận thiết lập quan hệ thƣơng mại Việt Nam-Australia Thương mại là một hoạt động có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới. Kinh tế hàng hóa ra đời dẫn tới việc trao đổi hàng hóa giữa các chủ thể. Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh.
Theo định nghĩa của bách khoa toàn thư mở Wikipedia "Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa , dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó bằng tiền thông qua giá cả hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức hàng đổi hàng trị giá tương đương nào đó" [39,tr. Sự phân biệt thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ dựa vào đối tượng đem ra trao đổi trên thị trường: "Đối tượng đem ra trao đổi nếu là hàng hóa (sản phẩm hữu hình) thì gọi là thương mại hàng hóa; còn đối tượng trao đổi là dịch vụ (sản phẩm vô hình) thì gọi là thương mại dịch vụ"[13,tr. Theo Luật thương mại của Việt Nam năm 2005: "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.1] Như vậy, thương mại là khái niệm chỉ hoạt động mua bán nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Đối tượng mua bán có thể là hàng hóa hay dịch vụ.
Khi các chủ thể kinh doanh cư trú tại các quốc gia khác nhau hoặc đối tượng trao đổi được di chuyển qua biên giới quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thì hoạt động thương mại mang tính quốc tế và được gọi là thương mại quốc tế. Trong quá trình trao đổi thương mại, một quốc gia có hoạt động giao thương với nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Toàn bộ hoạt động giao thương giữa hai quốc gia được gọi là hoạt động thương mại song phương giữa hai quốc gia đó. Căn cứ vào đối tượng trao đổi, thương mại song phương cũng bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, 16 z các hoạt động xúc tiến thương mại, các hoạt động về quyền sở hữu trí tuệ và hoạt động đầu tư có liên quan đến thương mại.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thương mại quốc tế kích thích sản xuất, tiêu dùng và là động lực tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu. Thương mại bao phủ nền kinh tế thế giới, làm vững mạnh và tăng chất lượng cuộc sống khắp thế giới. Thương mại tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập của người lao động và giúp doanh nghiệp trở nên năng động sáng tạo hơn.
Thương mại cũng giúp người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn sản phẩm có giá cả hợp lý. Thương mại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn thông qua việc sử dụng các nguồn lực kinh tế có hiệu quả. Thương mại giúp hoàn thiện quá trình phân công lao động trên thế giới và hình thành chuỗi giá trị hàng hoá toàn cầu. Với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế thì sự phụ thuộc của các quốc gia thông qua quan hệ thương mại quốc tế cũng ngày càng tăng lên.
Vì vậy, việc đánh giá quan hệ thương mại quốc tế song phương và đa phương của một quốc gia được các nhà kinh tế cũng như các nhà quản lý hết sức quan tâm. Khi đánh giá quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa hai quốc gia, việc áp dụng các lý thuyết thương mại phù hợp, phân tích cặn kẽ thực trạng và ảnh hưởng của quan hệ đó đối với nền kinh tế của quốc gia là hết sức quan trọng. Đánh giá chính xác giúp chỉ ra những ưu, nhược điểm, thành tựu và hạn chế, từ đó đề ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ thương mại quốc tế song phương phát triển đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia cũng như tăng trưởng cho nền kinh tế toàn cầu. Lý thuyết thương mại quốc tế là những lý thuyết giải thích cơ sở khoa học hình thành thương mại quốc tế và lợi ích đạt được của các chủ thể tham gia quá trình này.
Quan hệ thương mại phát triển từ thấp đến cao, các lý thuyết thương mại cũng được phát triển từ đơn giản đến phức tạp. Lý thuyết thương mại cơ bản được chia thành ba nhóm: lý thuyết thương mại cổ điển, lý thuyết thương mại tân cổ điển và lý thuyết thương mại hiện đại. 17 z Khi đánh giá quan hệ thương mại song phương giữa hai quốc gia không nhất thiết phải đưa toàn bộ những lý thuyết đã có từ trước tới nay mà tùy thuộc vào tình hình thực tế, mức độ phát triển thương mại giữa hai quốc gia đó để áp dụng những lý thuyết thương mại phù hợp. Một phần quan trọng nữa trong phân tích quan hệ thương mại song phương giữa hai quốc gia là việc phân tích đánh giá thực trạng tiến triển mối quan hệ thương mại này theo thời gian và theo các chỉ tiêu nhất định.
Trong khuôn khổ đề tài "Quan hệ thương mại Việt Nam - Australia: Thực trạng và giải pháp", xét quy mô các hoạt động thương mại giữa hai quốc gia, luận văn đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam-Australia trên lĩnh vực thương mại hàng hóa. Căn cứ vào phân tích tình hình thực tế mối quan hệ này trong khoảng thời gian 2005-2011, luận văn xin đề cập tới một số lý thuyết và các chỉ tiêu có ảnh hưởng lớn tới việc đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Australia trong thời gian tới. Một số lý thuyết thương mại quốc tế 1.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith (1723- 1790) giải thích nguồn gốc phát sinh trao đổi thương mại quốc tế song phương dựa vào lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia trong việc sản xuất một loại hàng hóa nào đó đối với quốc gia khác. Khi một quốc gia sản xuất một mặt hàng nào đó có hiệu quả hơn một quốc gia khác thì gọi là "có lợi thế tuyệt đối" trong việc sản xuất hàng hóa đó.
Theo lý thuyết này, trao đổi thương mại quốc tế hình thành trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia và sự trao đổi do "bàn tay vô hình" của thị trường trực tiếp điều tiết. Adam Smith cho rằng thương mại quốc tế bắt nguồn từ nguyên tắc phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất. Tiêu chuẩn quyết định sự lựa chọn ngành cần chuyên môn hóa trong phân công quốc tế là điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu, nguồn tài nguyên và năng lực sản xuất mà riêng quốc gia đó mới có. 18 z Ngày nay, lý thuyết lợi thế tuyệt đối giải thích được một phần trong hoạt động trao đổi thương mại, ví dụ như trao đổi thương mại giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển hay giữa các nước có tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và điều kiện khí hậu hoàn toàn khác nhau.
Lý thuyết này không giải thích được lý do của trao đổi thương mại quốc tế trong mọi trường hợp.2 Lý thuyết lợi thế so sánh (hay lợi thế tương đối) Lý thuyết lợi thế tương đối của nhà kinh tế học người Anh David Ricardo (1772-1823) là một trong những lý thuyết quan trọng và có giá trị ứng dụng thực tế cao. Mặc dù ra đời từ rất lâu, lý thuyết này vẫn có ứng dụng trong thực tiễn trao đổi thương mại quốc tế hiện nay. Lợi thế tương đối đòi hỏi mỗi nước phải so sánh chi phí và hiệu quả sản xuất của hai hoặc nhiều sản phẩm để tập trung sản xuất và xuất khẩu sản phẩm nào có chi phí thấp hơn so với các sản phẩm khác. Lý thuyết lợi thế so sánh được phát biểu như sau: "Theo nguyên tắc của lợi thế so sánh, nếu một quốc gia kém hiệu quả hơn (bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc gia khác trong việc sản xuất cả hai loại hàng hóa thì thương mại vẫn xảy ra và đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia.
Một quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu hàng hóa mà nước đó có lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) và nhập khẩu hàng hóa mà nước đó không có lợi thế so sánh" [13,tr. Như vậy, các quốc gia luôn luôn có thể và có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế mà cụ thể là tham gia vào thương mại quốc tế. Muốn vậy, một quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá mà mình có lợi thế (chi phí thâp, hiệu quả cao) đồng thời nhập khẩu từ các quốc gia khác những hàng hoá mà nước mình kém lợi thế. Nguồn gốc của thương mại quốc tế được giải thích là do có sự so sánh giá tương quan giữa các sản phẩm trong quá trình trao đổi giữa hai quốc gia.
Lý thuyết lợi thế so sánh ra đời đã khắc phục được những hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối. Nó giải thích được rằng tất cả các quốc gia dù trình độ phát triển khác nhau đều có lợi khi tham gia thương mại quốc tế. Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn tất cả các nước khác hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm thì vẫn có thể và có lợi khi tham gia 19 z vào phân công lao động và thương mại quốc tế. Thực tế cho đến nay, lý thuyết lợi thế so sánh luôn được coi là lý thuyết cơ bản, là lý thuyết quan trọng nhất của kinh tế quốc tế.3 Lý thuyết Heckscher-Ohlin (H-O) Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lý thuyết lợi thế so sánh tương đối đã giải thích được phần lớn nguyên nhân của thương mại quốc tế.
Sự khác biệt về tài nguyên, môi trường tự nhiên và sự khác biệt về giá cả tương đối giữa các sản phẩm của mỗi quốc gia sẽ quyết định lợi thế so sánh và lợi ích của quốc gia đó khi tham gia thương mại quốc tế. Nhưng tại sao lại có sự khác biệt về giá cả tương đối của sản phẩm?