CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI HOA KỲ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 1. PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ, SỰ TẤT YẾU TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP CỦA NƢỚC TA 1. Xu hƣớng cơ bản của nền kinh tế, thƣơng mại thế giới a. Như một xu thế khách quan, toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế đang diễn ra ngày một sôi động.
Toàn cầu hoá là giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế. Theo UNCTAD, bản chất của toàn cầu hoá là sự tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước, các khu vực [62, tr. Toàn cầu hoá chỉ có thể được giải quyết ở quy mô toàn cầu trên cơ sở hợp tác của các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển, trình độ chính trị, xã hội. Do đó, có thể nói toàn cầu hoá là một xu thế tích cực, phát triển như một thực tế khách quan của văn minh nhân loại.
Do có vị trí đặc biệt trong nền kinh tế thế giới, chính sách của các trung tâm kinh tế lớn đương nhiên có ảnh hưởng nhiều đến chiều hướng và nội dung của quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, những mục tiêu và toan tính ban đầu của các cường quốc này dần trở thành động lực khách quan, thúc đẩy sự tự do cạnh tranh trên quy mô rộng lớn. Toàn cầu hoá kinh tế một mặt đưa đến sự hình thành một thị trường thế giới tự do, một hệ thống tài chính, tín dụng toàn cầu, sự phát triển phân công lao động quốc tế và mở rộng giao lưu kinh tế, khoa học công nghệ giữa các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới. Mặt khác, toàn cầu hoá làm gia tăng tính tuỳ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế, có nhiều vấn đề trở thành vấn đề chung của nhân loại, nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mang tính quốc tế.
7 z Tất cả những đặc trưng đó của thế giới hiện đại đã nảy sinh nhu cầu hợp tác đa dạng nhiều chiều, ổn định và bền vững đối với mọi quốc gia trên thế giới. Nền kinh tế của mỗi dân tộc được đặt trong mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc với nền kinh tế khu vực và thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là tham gia vào quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, tham gia vào hệ thống thương mại và tài chính quốc tế, hệ thống phân công lao động quốc tế để phát huy tối đa lợi thế cá biệt; đồng thời có cơ hội tận dụng các lợi thế khu vực, lợi thế từ bên ngoài. Mặt khác, chính sự phân công lao động toàn cầu lại tạo ra một khuynh hướng cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt.
Sự cạnh tranh diễn ra trong mọi lĩnh vực, và đặc biệt là trong các hoạt động kinh tế đối ngoại. Điều đó buộc mọi quốc gia dù thuộc mô hình và trình độ phát triển nào, cũng phải cải cách và chuyển đổi tích cực để trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thế giới đang được hình thành như một thể thống nhất. Thực tế đã cho thấy dù là một mô hình kinh tế thị trường tự do với điển hình là Hoa Kỳ, hay mô hình thị trường xã hội của các nước thành viên EU, hoặc mô hình thị trường hỗn hợp như Nhật Bản thì cũng đang đều phải cải tổ lại một cách sâu sắc. Đồng thời, đây cũng là thách thức lớn, buộc các nước đang phát triển phải có những đối sách thật phù hợp, để không bị tuột dốc trong cuộc chiến kinh tế toàn cầu.
Khi đi sâu nghiên cứu về phân công lao động trong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, chúng ta thấy sự phân công lao động quốc tế đang ngày càng đi vào chiều sâu. Điều này là do có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hệ thống các công ty đa quốc gia. Quá trình phân công theo ngành và theo sản phẩm đang được chuyển dần sang phân công theo chi tiết và từng công đoạn của quy trình công nghệ. Khác biệt về điều kiện tự nhiên không còn đóng vai trò quyết định trong phân công lao động quốc tế nữa, mà 8 z khả năng về kỹ thuật và công nghệ đang dần dần trở thành yếu tố quan trọng trong sự phân công lao động mới.
Cơ cấu ngành và cơ cấu địa lý của phân công lao động quốc tế cũng có sự thay đổi. Trước đây các nước khối Nam 1 thường tập trung vào những ngành có hàm lượng lao động và nguyên liệu cao trong khi các nước khối Bắc phát triển những ngành thiên về hàm lượng vốn và công nghệ. Sự phân công như vậy đã tạo tiền đề cho thương mại hàng hoá giữa Bắc và Nam. Tuy nhiên, với triển vọng phát triển kinh tế "mềm", các nước khối Bắc sẽ đi dần vào các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao và các dịch vụ có nền móng là công nghệ thông tin trong khi các nước khối Nam tiếp nhận vai trò cung ứng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ trung bình.
Tỷ trọng của trục Bắc-Nam trong thương mại hàng hoá quốc tế có thể sẽ giảm dần trước sự lớn mạnh của trục Nam - Nam. Trước diễn biến của sự phân công lao động quốc tế theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đòi hỏi mỗi quốc gia phải xác định vị trí của mình, xác định có thể đảm nhiệm được khâu nào trong quá trình này, nhằm giành thế tích cực và chủ động khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Vừa là nguyên nhân lại vừa là kết quả của những xu hướng đang chi phối đời sống thế giới nêu trên, thương mại quốc tế ngày càng có vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong GDP của các quốc gia. Một mặt, thương mại quốc tế là phương tiện để cung cấp các yếu tố đầu vào cho nền sản xuất, quyết định khả năng và trình độ sản xuất của một nước.
Mặt khác, thương mại quốc tế là đòn bẩy của tăng trưởng kinh tế theo nghĩa là phương thức để một ngành sản xuất có thể mở rộng quy mô của mình tới mức tối ưu, để một quốc gia có khả năng và cơ hội khai thác tối đa lợi thế so sánh của mình. 1 Các nước Nam: các nước đang phát triển, Các nước Bắc: các nước công nghiệp phát triển 9 z Xét về sự phát triển cơ cấu ngành hàng, các ngành giàu hàm lượng chất xám sẽ phát triển mạnh. Chu kỳ đổi mới công nghệ và sản phẩm được rút ngắn, lợi thế so sánh của các quốc gia luôn thay đổi dẫn đến sự chuyển dịch thường xuyên hơn về cơ cấu kinh tế. Đối tượng thương mại được mở rộng, không chỉ bao gồm các sản phẩm hữu hình của nền sản xuất truyền thống mà cả các sản phẩm vô hình như các sản phẩm dịch vụ, vốn và công nghệ; và các sản phẩm của tri thức như quyền sở hữu trí tuệ và các sản phẩm khác.
Một đặc điểm đáng chú ý nữa trong quan hệ thương mại toàn cầu là sự gia tăng mạnh của thương mại dịch vụ (vận tải, viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng.) so với thương mại hàng hoá. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng do ảnh hưởng của sự phát triển khoa học - công nghệ. Khái niệm thương mại quốc tế hiện nay bao gồm sản phẩm "cứng", các Hiệp định dịch vụ đi kèm và cả các sản phẩm trí tuệ hay còn gọi là các sản phẩm "mềm". Mặt khác, sự phát triển của khoa học và công nghệ sẽ còn tạo ra những thay đổi căn bản về phương thức tiến hành thương mại trên phạm vi toàn cầu.
Mức độ phổ cập của mạng internet sẽ khiến tỷ trọng của thương mại điện tử tăng rất nhanh và thông qua đó thay đổi một cách sâu sắc trong tư duy kinh doanh, chiến lược tiếp thị cũng như phương thức kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Cùng với việc đem lại các cơ hội thị trường mới, thương mại điện tử cũng sẽ làm cho quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Sự phát triển đó đã, đang và sẽ làm suy giảm các lợi thế so sánh cổ điển như lợi thế tự nhiên và giá lao động thấp mà lợi thế này hiện đang là một ưu thế quan trọng của các nước đang phát triển. Thay vào đó là ưu thế so sánh của các nền kinh tế dựa vào công nghệ tiên tiến và các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.
Chính vì vậy, thị trường thế giới vừa có thể là động lực, là môi trường cho sự phát triển kinh tế lại vừa là thách thức đối với các nền kinh tế. Hơn ai 10 z hết các quốc gia đang phát triển, đang trên con đường công nghiệp hoá chịu sự ảnh hưởng rất nhiều của thương mại quốc tế trong định hướng phát triển của mình. Trong trật tự kinh tế thế giới hiện nay, Hoa Kỳ với thực lực kinh tế, sức mạnh quân sự vẫn đang là một quốc gia chiếm ưu thế lớn nhất thế giới. Bên cạnh đó, các nước EU, Nhật bản, Nga, Trung Quốc và nhiều nước khác đang có những bước phát triển kinh tế mạnh mẽ sẽ là những đối tác có nhiều tiềm năng.
Xét về sự năng động của quá trình tăng trưởng, theo dự báo của nhiều chuyên gia nghiên cứu kinh tế có uy tín, có nhiều khả năng thế kỷ 21 là thế kỷ của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Khu vực này hiện chiếm 24% sản xuất của cả thế giới, đến năm 2010 có khả năng chiếm tới 35%. Trong thập kỷ tới, khu vực này vẫn là khu vực năng động nhất về phát triển kinh tế, là khu vực thu hút sự quan tâm chú ý của thế giới và là đối tượng tranh giành ảnh hưởng của ba trung tâm kinh tế là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, các nước Đông Nam Á lại đang trỗi lên nhanh chóng, trở thành tâm điểm cạnh tranh của các công ty xuyên quốc gia.
Tỷ trọng của các nước này trong GDP thế giới đã tăng từ 2,4% năm 1970 lên 5% năm 1995 và 5,7% vào năm 2000. Đến năm 2010 nhiều dự báo cho rằng các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam tiếp tục đạt mức tăng trưởng kinh tế khá cao từ 7-9%/ năm.