Chương 1, Phụ lục K, Công ước Kyoto sửa đổi (Revised Kyoto Convention), tham khảo tại : http://www.org/en/topics/facilitation/instrument-and- tools/conventions/pf_revised_kyoto_conv/kyoto_new/spank.aspx , truy cập ngày 1/10/2022 Luan van 11 Federal Regulations) như sau “Nước xuất xứ là nước sản xuất, chế tạo hoặc nuôi trồng bất cứ gì có nguồn gốc nước ngoài được đưa vào nước Mỹ. Gia công hoặc phần nguyên vật liệu thêm vào ở một nước khác phải tạo ra sự thay đổi đáng kể đối với hàng hóa nước đó thì được coi là nước xuất xứ như định nghĩa ở phần này; tuy nhiên, đối với hàng hóa của một nước thành viên NAFTA11, quy tắc xuất xứ của NAFTA sẽ xác định nước xuất xứ của hàng hóa”12. Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (European Commission, viết tắt là EC), “xuất xứ” là “quốc tịch kinh tế” của hàng hóa được mua bán trong thương mại; việc phân loại thuế quan, giá trị và xuất xứ của hàng hóa là những yếu tố quyết định cho việc áp dụng các biện pháp thuế quan.13 Tại Việt Nam, xuất xứ đã được định nghĩa tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/03/2018 về “Quy định chi tiết Luật quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa” (viết tắt là Nghị định số 31/2018/NĐ-CP): “Xuất xứ hàng hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó”14. Khoản 14, điều 3, Luật Thương mại 2005 cũng đưa ra định nghĩa tương tự về xuất xứ hàng hóa.
Như vậy, “xuất xứ hàng hóa” có thể hiểu là nơi hàng hóa đó được sản xuất, nuôi trồng, chế biến hoặc chế tạo ra, hay nói cách khác thì nơi đó là “quốc tịch” của hàng hóa đã được xác minh rõ ràng để tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế. Theo Tổ chức Hải quan thế giới (World Customes Organization, viết tắt là WCO), hai tiêu chí cơ bản để xác định xuất xứ của hàng hóa là: (1) Tiêu chí “xuất xứ thuần thúy” (wholly obtained) và (2) Tiêu chí “chuyển đổi cơ bản” (substaintial 11 NAFTA: North American Free Trade Agreement, Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ 12 Phần 134.1(b), Phụ lục A, Tiêu đề 19 của “Bộ pháp điển pháp luật Liên bang” (Code of Federal Regulations), tham khảo tại https://www.gov/content/pkg/CFR-2011-title19-vol1/xml/CFR-2011- title19-vol1-part134.xml , truy cập ngày 10/1/2022 13 European Commision, Origin of the Goods , tham khảo tại https://ec.eu/taxation_customs/customs- 4/international-affairs/origin- goods_en#:~:text=Rules%20of%20origin%20determine%20where,of%20goods%20traded%20in%20comme rce. , truy cập ngày 1/10/2022 14 Khoản 1, điều 3, Nghị định số 31/2018/NĐ-CP Luan van 12 transformation)15. Đối với xuất xứ thuần thúy, hàng hóa này phải đáp ứng được một trong những điều kiện là loại hàng hóa có xuất phát từ tự nhiên, động vật đã được sinh ra và lớn lên từ một quốc gia nhất định, thực vật được thu hoạch từ một quốc gia nhất định, khoáng sản được khai thác hoặc lấy từ một quốc gia duy nhất, ví dụ tiêu biểu về sản phẩm có xuất xứ thuần thúy có thể kể đến như các loại hàng lâm sản, thủy sản.
Xuất xứ thuần thúy cũng bao gồm hàng hoá được sản xuất từ hàng hoá có xuất xứ thuần thúy, phế liệu và phế thải thu được từ hoạt động sản xuất, chế biến hoặc tiêu dùng. Đối với xuất xứ chuyển đổi cơ bản, xuất xứ của hàng hóa được đánh giá theo một trong những phương pháp sau: a) chuyển đổi mã hàng, b) hàm lượng giá trị, c) thỏa mãn yêu cầu kĩ thuật (về quy trình sản xuất hay chế biến). Một hàng hóa được coi như là đã chuyển đổi cơ bản theo chuyển đổi mã hàng (Change in Tariff Classification, viết tắt CTC) khi hàng hóa đó được phân loại theo chương (tariff chapter) hoặc theo nhóm, tiểu nhóm (tariff heading/ subheading) khác với phân loại của chính nguyên liệu cấu thành nên hàng hóa đó. Ví dụ: hạt tiêu nguyên hạt có mã HS 0904.00, sản phẩm hạt tiêu xay có mã HS 0904.
Thứ hai, hàm lượng giá trị của một hàng hóa khi lên đến một giá trị phần trăm nhất định thì hàng hóa đó được coi là đã chuyển đổi cơ bản về xuất xứ, bao gồm hai cách tính là đặt mức cho phép tối đa đối với nguyên liệu không có xuất xứ theo quy định hoặc mức cho phép tối thiểu về hàm lượng xuất xứ theo quy định. Cuối cùng, hàng hóa được coi là đã chuyển đổi cơ bản khi đã trải qua quá trình sản xuất hay chế biến đã tác động làm bản chất hàng hóa thay đổi. Khái niệm và phân loại quy tắc xuất xứ WTO đã đưa ra khái niệm về quy tắc xuất xứ như sau: “Quy tắc xuất xứ là bộ tiêu chí cần thiết để xác định nguồn gốc quốc gia của một sản phẩm” và “Có sự khác biệt lớn trong sự quản lý của chính phủ liên quan đến quy tắc xuất xứ, một số chính phủ áp dụng tiêu chí chuyển đổi phân loại thuế quan, một số khác thì áp dụng tiêu chí tỷ lệ phần trăm theo giá trị, một số lại áp dụng tiêu chí về hoạt động sản xuất 15 World Customs Organization, Rules of Origin Handbook, tham khảo tại: http://www.org/~/media/wco/public/global/pdf/topics/origin/overview/origin-handbook/rules-of- origin-handbook.pdf , truy cập ngày 10/1/2022, tr 9-10. Luan van 13 hoặc chế biến.”16 Từ khái niệm đó, ta thấy được rằng mỗi quốc gia hay khu vực kinh tế khác nhau sẽ có những quy tắc riêng nhất định trong việc xác định xuất xứ hàng hóa.
Những quy tắc này được gọi chung là “quy tắc xuất xứ” (Rules of Origin, viết tắt là ROO). Các nước thành viên của WTO đã thống nhất lập ra “Hiệp định về quy tắc xuất xứ” (Agreement on Rules of Origin) để đảm bảo rằng “các quy tắc xuất xứ rõ ràng và có thể dự đoán được, đồng thời việc áp dụng chúng tạo thuận lợi cho dòng chảy thương mại quốc tế, đảm bảo rằng các quy tắc xuất xứ không vô hiệu hóa hoặc làm tổn hại đến quyền của các Thành viên”17. Hiệp định này nêu lên định nghĩa cụ thể hơn về quy tắc xuất xứ như sau: “Quy tắc xuất xứ là những luật, quy định, quyết định hành chính chung do các thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hóa với điền kiện là quy tắc xuất xứ này không liên quan đến thỏa thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan vượt ra ngoài phạm vi áp dụng tại khoản 1 Điều 1 của GATT 1994”18. Định nghĩa theo Công ước Kyoto sửa đổi thì “Quy tắc xuất xứ là những điều khoản cụ thể, phát triển từ những quy tắc quy định trong luật pháp quốc gia hoặc các hiệp định quốc tế được một quốc gia áp dụng để xác định xuất xứ hàng hóa”19.
Tùy theo nội dung được các bên tham gia đồng thuận, quy tắc xuất xứ được quy định cụ thể theo từng hiệp định khác nhau. Thậm chí, trong cùng một hiệp định, quy tắc này có thể khác nhau đối với từng loại hàng hóa riêng biệt. Ví dụ: Về quy tắc xác định xuất xứ cho mặt hàng giày dép, trong “Hiệp định thương mại Hàng hóa ASEAN” (ASEAN Trade in Goods Agreement, viết tắt là ATIGA) không quy định về quy tắc xuất xứ riêng sử dụng cho loại hàng hóa này, và đồng thời hiệp định này cũng là FTA duy nhất có quy định về “Cộng gộp bán phần”20 trong các FTA mà Việt Nam đang tham gia. ATIGA được nhận định là có quy tắc xuất xứ dễ dàng 16 WTO, Thông tin kỹ thuật về quy tắc xuất xứ, tham khảo tại https://www.org/english/tratop_e/roi_e/roi_info_e.htm , truy cập ngày 10/1/2022 17 Phần mở đầu, Hiệp định về quy tắc xuất xứ (Agreement on Rules of Origin), tham khảo tại https://www.org/content/reports/25193368/15/read , truy cập ngày 10/1/2022 18 Khoản 1, Điều 1, Hiệp định về quy tắc xuất xứ (Agreement on Rules of Origin), tlđd 19 Khoản 1, Chương 1, Phụ lục K, Công ước Kyoto sửa đổi (Revised Kyoto Convention), tham khảo tại: http://www.org/en/topics/facilitation/instrument-and- tools/conventions/pf_revised_kyoto_conv/kyoto_new/spank.aspx, truy cập ngày 10/1/2022 20 Cộng gộp bán phần (Partial Cumulation): một trong các phương pháp tính toán giá trị các phần nguyên liệu để xác định xuất xứ của thành phẩm cuối Luan van 14 nhất trong số các FTA21.
Cùng mặt hàng giày dép, Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc (ASEAN–China Free Trade Area, viết tắt là ACFTA) lại có quy định chặt chẽ hơn nhiều, thể hiện qua quy tắc cụ thể áp dụng đối với mặt hàng giày dép trong ACFTA22. Đây cũng là một FTA không chấp nhận “quy tắc tỷ lệ tối thiểu”23 về xuất xứ, nghĩa là không cho phép ngoại lệ, dù chỉ một lượng rất nhỏ không đáp ứng quy tắc xuất xứ có trong thành phẩm thì lô hàng cũng đều bị từ chối. Như vậy, chỉ so sánh tại một mặt hàng giầy dép ta cũng có thể thấy rằng quy tắc xuất xứ được quy định tại hai Hiệp định là rất khác nhau. Phân loại quy tắc xuất xứ Từ góc độ của hải quan, quy tắc xuất xứ được chia thành hai loại: xuất xứ ưu đãi và xuất xứ không ưu đãi.
Theo nguyên tắc đối xử “tối huệ quốc” (Most Favored Nation, MFN) của WTO, các thành viên được yêu cầu: khi dành sự đối xử thuận lợi nhất về thuế quan cũng như quy định đối với sản phẩm nhập khẩu hoặc xuất khẩu của bất kỳ thành viên nào thì cũng phải dành sự đối xử như vậy cho các sản phẩm tương tự của tất cả các thành viên khác24. Hay nói cách khác, sự đối xử giữa hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau phải đồng nhất khi nhập khẩu vào một nước. Theo đó, quy tắc xuất xứ không ưu đãi xác định nước xuất xứ của hàng hóa với mục đích áp dụng đối xử MFN, và thực hiện một số biện pháp chính sách thương mại của quốc gia thành viên đó như thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp, cấm vận hoặc tự vệ thương mại, hạn ngạch thuế quan, v.Trong khi đó, quy tắc xuất xứ ưu đãi được sử dụng để xác định xem hàng hóa có thỏa mãn tiêu chuẩn xuất xứ từ một số thành viên nhất định, là những thành viên có áp dụng thỏa thuận đặc biệt hay không. Nếu đủ điều kiện thì hàng hóa có xuất xứ ưu đãi sẽ được nhập khẩu với mức thuế suất thấp hơn mức không ưu đãi, hoặc miễn thuế, tùy thuộc vào quy 21 Theo trung tâm WTO-VCCI, Cẩm nang về các hiệp định thương mại tự do (FTA) cho doanh nghiệp giày dép, tr.96, tham khảo tại: https://trungtamwto.vn/file/16485/Cam%20nang%20ve%20cac%20FTA%20cho%20dn%20giay%20dep.