mở đầu, bảng ký hiệu viết tắt, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo cũng nhƣ kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về tổ chức thƣơng mại thế giới Chƣơng 2: Tiến trình tự do hoá thƣơng mại trong khuôn khổ WTO Chƣơng 3: Định hƣớng và những giải pháp thúc đẩy tiến trình TDHTM của Việt nam sau khi gia nhập WTO Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI 1. Quá trình hình thành và phát triển của WTO 1. Lịch sử ra đời của GATT WTO (Tổ chức Thƣơng mại Thế giới) có tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). GATT là một tổ chức đƣợc thành lập tạm thời sau chiến tranh thế giới thứ hai theo gƣơng các tổ chức đa phƣơng khác tham gia vào hợp tác kinh tế quốc tế - đáng chú ý là các tổ chức của "Bretton Woods", ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
GATT không phải là tổ chức kinh tế có tôn chỉ mục đích, chƣơng trình hành động buộc các nƣớc phải chấp hành. Nó không nhằm mục đích hiệu lực hoá các hiệp định thƣơng mại. Nói các khác, GATT là một hiệp định đa phƣơng giữa các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng về thƣơng mại và thuế quan. GATT ra đời là một nỗ lực vƣợt bậc nhằm cứu nền thƣơng mại thế giới khỏi khủng hoảng trì trệ nghiêm trọng mà lịch sử đã chứng kiến từ đầu thập kỷ 30 và ngƣời ta đã kịp nhận thấy rằng, một trong những nguyên nhân đẩy đến tình trạng trên chính là chính sách bảo hộ thái quá mà mỗi quốc gia, vì những lợi ích riêng đã cố thi hành, bất chấp ảnh hƣởng tiêu cực đến thƣơng mại chung.
Những chính sách này làm méo mó cạnh tranh lành mạnh trong các nền kinh tế thị trƣờng, làm cho buôn bán quốc tế phải tiến hành trong không khí kém an toàn và việc dự đoán xu hƣớng phát triển cũng nhƣ dung lƣợng trao đổi hàng hoá và dịch vụ rất khó khăn. Điều này tác động xấu đến nền kinh tế toàn cầu và do đó, kìm hãm sự phát triển kinh tế của từng quốc gia. 7 z Do Hiến chƣơng La Havana không bao giờ đƣợc phê chuẩn, nên Hiệp định GATT với 38 điều đã đƣợc các nƣớc áp dụng trong gần 50 năm nhƣ là hiệp định đa phƣơng duy nhất điều chỉnh quan hệ thƣơng mại quốc tế. Sau gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, GATT đã trở thành một hệ thống thể chế và pháp lý của nền thƣơng mại quốc tế.
Mặc dù có những khiếm khuyết nhất định, GATT đã đóng vai trò là ngƣời bảo vệ các nguyên tắc thƣơng mại tự do và mở cửa thị trƣờng. Một trong những khiếm khuyết lớn nhất của GATT (1947) là tính chất “tạm thời” của hiệp định này với tƣ cách là một điều ƣớc quốc tế. Nghị định thƣ áp dụng tạm thời GATT (1947) quy định: “các bên ký kết sẽ áp dụng các điều khoản tại phần I và phần III cũng như tại phần II trong chừng mực những điều khoản tại phần II không trái với luật pháp hiện hành của các bên ký kết”. Quy định áp dụng phần II của GATT (1947) đã cho phép một số bên ký kết GATT duy trì một số luật ban hành trƣớc ngày 1-1-1948 có những điều khoản trái với những nghĩa vụ quy định tại phần I và phần III của GATT.
Một số nƣớc nhƣ Mỹ và Canađa đã sử dụng quyền đặc miễn này, trong khi đó Cộng đồng Châu Âu, Nhật Bản lại không thể sử dụng quyền đặc miễn này vì họ không phải là các bên ký kết ban đầu của GATT. Cũng do về mặt pháp lý, GATT (1947) không phải là một tổ chức quốc tế nên đã gây ra một số tranh cãi liên quan đến khái niệm “tƣ cách thành viên” của GATT. Trƣờng hợp xin khôi phục lại tƣ cách thành viên GATT của Trung Quốc là một thí dụ điển hình. Trung Quốc là một “Bên ký kết ban đầu” nhƣng đến năm 1950, Đài Loan đã quyết định rút khỏi GATT sau khi thấy chính quyền Mỹ từ bỏ việc đệ trình Thƣợng viện Mỹ xin phê chuẩn “Hiến chƣơng La Havana”.
Từ năm 1980, Mỹ bắt đầu cho Trung Quốc hƣởng quy chế “Tối hệ quốc” đƣợc gia hạn hàng năm, trên cơ sở luật thƣơng mại Hoa Kỳ năm 1974. Tháng 7-1986, Trung Quốc chính thức nộp đơn xin khôi phục lại tƣ cách “Bên ký kết ban đầu” của GATT. Tuy nhiên, đề nghị này của Trung Quốc đã không đƣợc các chuyên gia pháp lý của GATT chấp thuận với lý do GATT không phải là một tổ chức quốc tế, do đó không có vấn đề kế thừa hoặc khôi phục lại tƣ cách thành viên, do vậy Trung Quốc phải đàm phán để “quay lại” GATT. 8 z Hiệp định GATT quy định hai loại thủ tục gia nhập: gia nhập thông qua đàm phán và gia nhập thông qua giới thiệu.
Gia nhập thông qua đàm phán là việc ứng cử viên đàm phán với tất cả các bên ký kết GATT về điều kiện gia nhập bao gồm việc cắt giảm thuế quan, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan và những biện pháp kinh tế vĩ mô nhƣ: chính sách giá, thuế, chính sách cạnh tranh và có thể mở rộng sang cả những vấn đề chính trị- pháp lý nhƣ hệ thống hành chính ở trung ƣơng và địa phƣơng, hệ thống tài phán tƣ pháp – hành chính, vấn đề độc quyền thƣơng mại nhà nƣớc… Thủ tục gia nhập thông qua giới thiệu là việc một bên ký kết của GATT giới thiệu việc xin gia nhập của ứng cử viên mà bên ký kết chịu trách nhiệm về mặt pháp lý trong quan hệ quốc tế. Thủ tục này đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp xin gia nhập của các nƣớc cựu thuộc địa. Đông Dƣơng thuộc Pháp thuộc những trƣờng hợp này, khi ký kết GATT vào năm 1947 Pháp ký với danh nghĩa Liên hiệp Pháp (French Union) điều này đồng nghĩa là Hiệp định này cũng đƣợc áp dụng đối với tất cả các quốc gia thành viên của Liên hiệp Pháp trong đó có ba nƣớc Đông Dƣơng. Sau gần 50 năm, số lƣợng các bên ký kết GATT đã tăng từ 23 quốc gia và lãnh thổ vào năm 1947 lên đến 103 nƣớc vào năm 1990 là lúc kết thúc giai đoạn giữa kỳ của Vòng đàm phán Urugoay.
GATT từ chỗ chỉ là một hiệp định tổng quát về thuế quan và thƣơng mại đã thực sự trở thành tổ chức thƣơng mại đa phƣơng, quản lý và điều chỉnh hơn 80% các trao đổi thƣơng mại hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới. Tuy có những khiếm khuyết nhƣ đã trình bày ở phần trên, GATT đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và tiến hành các vòng đàm phán thƣơng mại đa phƣơng về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan. Từ năm 1947 đến năm 1994, đã có 8 vòng đàm phán thƣơng mại đa phƣơng đƣợc tiến hành trong khuôn khổ GATT. Nội dung của các vòng đàm phán đã đƣợc mở rộng dần từ cắt giảm thuế quan và biện pháp phi thuế quan đến cải cách hệ thống pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT.
Nói tóm lại, với những mục tiêu cao cả là tạo ra một môi trƣờng thƣơng mại quốc tế an toàn và rộng khắp, hiệp định chung về thuế quan và thƣơng mại là một nỗ lực lớn nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng kinh tế và sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu. 9 z Những quy định căn bản của GATT. GATT có những nguyên tắc và qui định căn bản mà mỗi nƣớc thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng nhƣ sau: a. Không phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế.
Bảo hộ bằng thuế quan và không đƣợc phép thông qua hình thức nào khác nhƣ trợ cấp đầu vào, lãi suất thấp, thuế quan ƣu đãi. Khống chế các mức trần thuế để hạn chế các nƣớc thành viên tự ý nâng mức thuế quan lên cao hơn. Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh: Bắt buộc các thành viên phải đƣa ra những ứng xử công bằng, giảm bớt bảo hộ mâu dịch. Thủ tục trì hoãn: Các nƣớc có thể trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ đối với GATT trong thời gian nhất định thông qua các biện pháp tạm thời bảo hộ các ngành trong nƣớc nhƣng phải chứng minh đƣợc rằng nếu không thi hành bảo hộ các nhà sản xuất trong nƣớc thực sự tổn thất lớn, đƣợc áp dụng với những nƣớc tạm thời bảo hộ các ngành công nghiệp yếu kém để tạo cơ hội phát triển.
Cấm các hạn chế về số lƣợng đặc biệt đối với nông sản, hàng dệt và sắt thép. Cho phép ký kết các thoả thuận thƣơng mại khu vực. Những điều kiện ƣu đãi đặc biệt dành cho các nƣớc ĐPT: Các nƣớc ĐPT thành viên của GATT dành cho các nƣớc ĐPT những quyền lợi đặc biệt và khác nhau mà không đòi hỏi phải thi hành những nguyên tắc có đi có lại. Giải quyết bất đồng thƣơng mại: Nguyên tắc này nhằm bảo đảm an toàn và công bằng trong quan hệ thƣơng mại.
Các nƣớc thành viên của GATT nếu cảm thấy quyền lợi của họ theo quy định của GATT đang bị vi phạm thì bƣớc đầu tiên để giải quyết tranh chấp là tiến hành thƣơng lƣợng. Nếu thƣơng lƣợng không có kết quả thì có thể khiếu nại lên GATT. Nếu trên phạm vi do GATT xác định không chịu thực thi ý kiến giải quyết thì bên thiệt hại có quyền tiến hành các biện pháp trả đũa. Trên đây là những quy định cơ bản của GATT thể hiện mục tiêu cao cả của nó là tạo ra môi trƣờng thuận lợi cho tự do hoá thƣơng mại vì sự tăng trƣởng kinh tế tốt hơn cho tất cả các nền kinh tế.
Với tƣ cách là cơ quan chịu 10 z trách nhiệm về nền thƣơng mại toàn cầu, các bên tham gia ký kết GATT đã dành những nỗ lực đáng kể trên nhiều phƣơng diện, để đạt đƣợc những nguyên tắc cơ bản và hoàn thiện nhƣ hiện nay. Các vòng đàm phán của GATT Những bƣớc tiến vƣợt bậc tới tự do hoá thƣơng mại quốc tế đã diễn ra thông qua những cuộc đàm phán về mậu dịch đa phƣơng hay còn gọi là "Những vòng đàm phán mậu dịch" đƣợc tiến hành dƣới sự bảo trợ của GATT. Đặc biệt, vòng đàm phán Urugoay là vòng đàm phán cuối cùng và kéo dài nhất so với các vòng đàm phán trƣớc đó.