MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu, khách quan của thế giới, các quốc gia tham gia hội nhập kinh tế quốc tế phải mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, do đó, cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước ngày càng quyết liệt. Để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường, nhất là thị trường ngoài nước, Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện các giải pháp, nhất là giải pháp tài chính để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng mà nước ta có lợi thế, như: Nông thủy sản xuất khẩu đẳng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Có nhiều giải pháp: Kinh tế, tài chính, khoa học công nghệ, tổ chức.
được sử dụng, nhưng giải pháp tài chính với tác động hữu hiệu được chú trọng và sử dụng phổ biến. Vừa qua, các giải pháp tài chính để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu nói chung, nông thủy sản xuất khẩu ĐBSCL nói riêng được Chính phủ ta quan tâm sử dụng có hiệu quả, góp phần tăng trưởng đáng kể kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nhất là đối với ĐBSCL từ 1,328 ti dollar MY nam 1998 lên 2,099 tỉ dollar Mỹ năm 2003 [45]. Các mặt hàng nồng sản (gạo); thủy sản (tôm, cá tra, ba sa.) của ĐBSCL ngày càng nổi tiếng trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng quyết liệt, rào cẩn thương mại, rào cản kỹ thuật của nước nhập khẩu ngày càng nhiều và càng tỉnh vi, nhất là sau vụ kiện bán phá giá cá tra, basa, tôm của Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ đã ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng cạnh tranh nông thủy san xuất khẩu ĐBSCL.
Vì vậy, việc chọn để tài : “Giải pháp tài chính nâng cao khả năng cạnh tranh nông thủy sản xuất khẩu khu vực ĐBSCL” là một đòi hỏi khách quan, bức xúc trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta. Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận đi đôi với việc phân tích, đánh giá tác động thực tiễn của giải pháp tài chính nâng cao khả năng cạnh tranh nông thủy sản xuất khẩu ĐBSCL trong thời gian qua, để tài đưa ra kiến nghị các giải pháp trong thời gian tới phù hợp với cơ chế thị trường, với các cam kết và thông lệ quốc tế. Từ đó, không ngừng phát huy hiệu quả các giải pháp tài chính, với vai trò là công cụ đắc lực của nhà nước trong việc nang cao kha năng cạnh tranh nông thủy sản xuất khẩu ĐBSCL, đắm bảo hội nhập kinh tế quốc tế thành công theo tỉnh thần Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ chính trị (Khóa IX ). Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp tài chính hiện nay đang áp dụng tại Việt Nam nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh nông thủy sản xuất khẩu: đi sâu vào những vấn để cụ thể, bức xúc, đồng thời gắn liền chính sách tài chính phục vụ xuất khẩu với chính sách tài chính chung ở nước ta.
Các số liệu sử dụng trong luận án chủ yếu là ở các nước có xuất nhập khẩu nông thủy sản lớn như: Thái Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ. và ở Việt Nam, nhất là ĐBSCL để chứng minh, khái quát, thuyết phục từng vấn dé. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp Logic, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của để tài `.# Đề tài nêu ra một số tác động của giải pháp tài chính hiện hành đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu nói chung, nông thủy sản xuất khẩu ĐBSCL nói riêng, trong xu hướng tự do hóa thương mại, đầu tư và tự do hóa tài chính hiện nay trên thế giới.
Đặc biệt rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu của các nước, như: Thái Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ. trong việc sử dụng các giải pháp tài chính nâng cao khẩ năng cạnh tranh nông thủy sẵn xuất khẩu. làm cơ sở vận dụng ở Việt Nam, Đề tài cũng nêu ra những tác động tích cực, tiêu cực của giải pháp tài chính hiện hành đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh nông thủy sản xuất khẩu ĐBSCL, tìm ra nguyên nhân để có cơ sở để xuất các giải pháp khắc phục phù hợp. Cuối cùng, đề tài để xuất phương hướng, giải pháp tài chính để nâng cao khả năng cạnh tranh nông thủy sản xuất khẩu ĐBSCL phù hợp với cơ chế thị trường, các cam kết và thông lệ quốc tế, phù hợp với chính sách tài chính chung, không phân biệt các thành phần kinh tế.
Khắc phục được nhược điểm của các giải pháp tài chính hiên hành, phù hợp với xu hướng tự do hóa thương mại, đầu tư, tự do hóa tài chính hiện nay, góp phần thực hiện Dựa trên các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được chia thành nhiều loại: & Đưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị tường Có cạnh tranh giữa những người sản xuất (người bán) với nhau, giữa những người mua và người bán, người sản xuất và người tiêu dùng và giữa những người mua với nhau. Cạnh tranh ở đây xoay quanh vấn để chất lượng hàng hóa, giá cả và điều kiện buôn bán. b Dưới góc độ thị trường thì có hai loại cạnh tranh -Cạnh tranh hoàn hảo hay thudn tuy {Pure Competition): La hinh thttc cạnh tranh, trong đó giá cả của một loại hàng hóa không thay đổi trong toàn bộ địa danh của thị trường, bởi vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điểu kiện của thị trường.Với điều kiện đó không có công ty (nhà doanh nghiệp) nào có đủ sức mạnh dé chi phối giá cả sắn phẩm của mình trên thị trường. -Canh tranh khéng hodn hdéo (Imperfect Competition): Day là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sắn xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chỉ phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường.
Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: Độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền, +Độc quyền nhóm tổn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số it người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sẩn phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào san lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó. +Cạnh tranh mang tính độc quyền là một hình thức cạnh tranh mà ở đó người bán có thể ảnh hưởng đến người mua bằng sự khác nhau về các sản phẩm của mình về chất lượng, giá cả và điểu kiện buôn bán.Trong rất nhiều trường hợp người bán có thể buộc người mua chấp nhận giá cả, chất lượng và điều kiện buôn bán. c Đưới góc độ các công đoạn của sẵn xuất - kinh doanh Người ta cho rằng có ba loại cạnh tranh: Cạnh tranh trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng. Cuộc cạnh tranh này được thực hiện bằng phương thức thanh toán và dịch vụ.
đ Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh Có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, C.Mác đã dùng cách phân loạt trên đây nghiên cứu cơ sở khoa học của các phạm trù giá trị thị trường, giá cả sẵn xuất và lợi nhuận bình quân. Mác chỉ rõ trước hết để đạt mục tiêu bán cùng một loại hàng hóa đã xuất hiện sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, kết quả là hình thành giá trị thị trường. Sau đó, để đạt mục tiêu giành nơi đầu tư có lợi, giữa các chủ thể kinh tế, đã xuất hiện cạnh tranh giữa các ngành, dẫn đến hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sẵn xuất. Ngày nay, phát triển cách phân loại trên của C.
Mác, các nhà kinh tế học chia cạnh tranh thành hai hình thức là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang. -Cạnh tranh đọc: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp nhất khác nhau. Cạnh tranh dọc chỉ ra rằng sự thay đối giá bán và lượng bán nói trên của các doanh nghiệp sẽ có điểm dừng, sau một thống nhất. Cạnh tranh thời gian nhất định sẽ hình thành một giá thị trường cao bị phá sản, còn đọc sẽ làm cho các doanh nghiệp có chi phí bình quân nhuận cao.
các doanh nghiệp có chỉ phí bình quân thấp nhất sẽ thu được lợi p có mức chi -Cạnh tranh ngang: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệ trong cạnh tranh phí bình quân thấp nhất như nhau. Do đặc điểm này, song giá cả Ở ngang không có doanh nghiệp nào bị loại ra khỏi thị trường, hạn mức thấp tối đa, lợi nhuận giảm dẫn và có thể không có lợi nhuận. Để Phải liên minh, chế bất lợi đó, cạnh tranh ngang dẫn đến hai khuynh hướng: doanh thống nhất giá bán cao, giảm lượng bán trên thị trường, hoặc các ngang thành cạnh nghiệp tìm mọi cách giảm chi phí, tức chuyển cạnh tranh. tranh dọc, nhằm đứng vững trên thị trường và có lợi nhuận e Xét theo phạm vì lãnh thổ Người ta nói tới cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế.
Cần lưu đó là ý rằng cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay thị trường nội địa, cạnh tranh giữa hàng hóa sẵn xuất trong nước với hàng nhập khẩu. (về các chỉ Khả năng cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của nó một tiêu) so với sản phẩm cùng lọai do các đối thủ khác cung cấp trên cùng nhiều thị trường. Khả năng cạnh tranh của sẵn phẩm được cấu thành bởi cáo. phương yếu tố: Giá cả, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, quảng nghiệp.
thức bán hàng, thị hiếu. và khả năng cạnh tranh của doanh thế Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi các của doanh nghiệp so với các đối thủ khác ương việc thỏa mãn tốt nhất doanh nghiệp đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho trong môi trường cạnh tranh trong nƯỚc và ngoài nước.