Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Một số giải pháp nhằm duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng nông sản tại Công ty XNK Tổng hợp 1 – Bộ thương mại" được tác giả Nguyễn Thị Việt Ngọc (dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thu) thực hiện vào tháng 5 năm 2004 dưới dạng bài thu hoạch thực tập tốt nghiệp ngành Kinh tế đối ngoại / Quản trị kinh doanh thương mại.
Bối cảnh thực tiễn được xác lập dựa trên đường lối kinh tế của Việt Nam giai đoạn chuyển đổi, vận hành theo chiến lược "hướng về xuất khẩu" nhằm tái cơ cấu nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam có đặc điểm nền kinh tế nông nghiệp lâu đời với trên 70% đến 80% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp, sở hữu điều kiện tự nhiên thuận lợi về đất đai và khí hậu. Nông sản là nhóm mặt hàng xuất khẩu truyền thống, đóng vai trò tạo nguồn thu ngoại tệ và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng quyền tự do kinh doanh xuất nhập khẩu cho nhiều thành phần kinh tế, tình trạng cạnh tranh trong và ngoài nước trở nên gay gắt.
Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp I – Bộ Thương mại (tên giao dịch: GENERALEXIM HANOI) là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Thương mại với bề dày hơn 20 năm hoạt động. Nhóm mặt hàng nông sản là một trong những thế mạnh cốt lõi của công ty. Trong bối cảnh Nhà nước đặt ra hai mục tiêu lớn: nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng nông sản, doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức suy giảm thị trường truyền thống (như Đông Âu), áp lực cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ quốc tế lẫn nội địa, cùng các rào cản về chất lượng chế biến và bảo quản.
Nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả được phân định rõ thành các nội dung chính:
- Hệ thống hóa cơ sở hoạt động và phân tích đặc điểm tổ chức, tài chính của Công ty XNK Tổng hợp I.
- Đánh giá thực trạng thị trường và kết quả xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực của công ty giai đoạn 1998 – 2003, đồng thời so sánh với bức tranh xuất khẩu nông sản chung của cả nước.
- Nhận diện các đối thủ cạnh tranh, phân tích các điểm nghẽn về năng lực chế biến, bộ máy quản lý và tiếp thị.
- Đề xuất hệ thống giải pháp duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng nông sản cho doanh nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động duy trì, mở rộng thị trường và kết quả xuất khẩu nhóm hàng nông sản (gạo, cà phê, lạc nhân, hạt tiêu, cao su, hạt điều, chè, mây cói, rau quả).
- Phạm vi không gian: Công ty XNK Tổng hợp 1 – Bộ Thương mại, bao gồm trụ sở chính tại 46 Ngô Quyền (Hà Nội), các chi nhánh (TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng), các cơ sở xí nghiệp sản xuất trực thuộc và các thị trường đối tác quốc tế (Đông Á, ASEAN, EU, Trung Quốc, Hoa Kỳ).
- Phạm vi thời gian: Số liệu và thực tiễn hoạt động từ khi thành lập doanh nghiệp (1981), giai đoạn trước năm 1998, và đi sâu vào giai đoạn 1998 – 2003.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng các lý thuyết kinh tế thương mại quốc tế và quản trị kinh doanh, cụ thể:
- Lý thuyết ngoại thương: Trích dẫn quan điểm của Antoine de Montchrétien về mối quan hệ giữa nội thương và ngoại thương ("Nội thương là một hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm... Hoạt động ngoại thương là nguồn gốc thực sự của của cải"), khẳng định vai trò sống còn của hoạt động ngoại thương đối với sự tích lũy của cải quốc gia.
- Lý thuyết Marketing hỗn hợp (Marketing Mix 4P): Vận dụng mô hình 4P (Product - Sản phẩm, Price - Giá cả, Place - Phân phối, Promotion - Xúc tiến thương mại) trong việc thiết lập chính sách thị trường, tham gia hội chợ triển lãm quốc tế và định giá hàng nông sản xuất khẩu.
- Khái niệm chiến lược kinh doanh xuất khẩu: Xác định hệ thống mục tiêu thị trường, phương thức thâm nhập và kiểm soát rủi ro thông qua việc trả lời các câu hỏi cốt lõi của doanh nghiệp ("chúng ta đang ở đâu, chúng ta muốn gì, chúng ta có thể làm gì") và phân tích thị trường hiện tại, thị trường tiềm năng.
- Các phương thức giao dịch ngoại thương: Phân tích đặc trưng của ba phương thức kinh doanh chính: xuất khẩu tự doanh, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, gia công hàng xuất khẩu, cùng các nghiệp vụ bổ trợ như hàng đổi hàng và tạm nhập tái xuất.
Khung thể chế và căn cứ pháp lý được đề cập trực tiếp gồm:
- Quyết định số 1365/TTCB ngày 15/12/1981 của Bộ Ngoại thương về việc thành lập Công ty XNK Tổng hợp I.
- Quyết định số 858/TCCB ngày 01/08/1993 của Bộ Thương mại về việc hợp nhất Công ty Phát triển và XNK (Promexim) vào Công ty XNK Tổng hợp 1.
- Tiến trình tham gia các định chế thương mại khu vực và quốc tế: Gia nhập ASEAN (1996), thực hiện Hiệp định CEPT/AFTA, gia nhập APEC (1998) và lộ trình đàm phán gia nhập WTO.
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp thống kê mô tả và phân tích số liệu thứ cấp từ các báo cáo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối qua các chuỗi thời gian (1982–1997 và 1998–2003).
- Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp thông qua hệ thống chỉ tiêu: khả năng sinh lời của vốn cố định (VCĐ), khả năng sinh lời của vốn lưu động (VLĐ), vòng quay vốn lưu động, hệ số đảm nhận vốn lưu động, thời gian một vòng luân chuyển vốn.
- Nguồn dữ liệu sử dụng: Báo cáo tổng hợp và Báo cáo kết quả kinh doanh định kỳ của Công ty XNK Tổng hợp I; các ấn phẩm thống kê chuyên ngành từ Thời báo Kinh tế Việt Nam (Kinh tế 2002–2003, Kinh tế 2003–2004 Việt Nam & Thế giới).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát chung về Công ty XNK Tổng hợp I – Bộ Thương mại
Tiểu mục này tập trung vào lịch sử hình thành, cơ cấu bộ máy tổ chức, các phương thức hoạt động và hiệu quả tài chính của GENERALEXIM.
Doanh nghiệp chính thức thành lập ngày 15/12/1981 theo Quyết định số 1365/TTCB của Bộ Ngoại thương nhằm khắc phục tình trạng tranh mua tranh bán, phá giá thị trường trong giai đoạn đầu phân cấp xuất nhập khẩu. Ngày 01/08/1993, Bộ Thương mại ra Quyết định số 858/TCCB sáp nhập Công ty Promexim vào GENERALEXIM. Sau sáp nhập, công ty tiếp nhận khoản nợ khó đòi 2,1 tỷ đồng, khoản lỗ 900 triệu đồng, đưa tổng nợ khó đòi lên 37 tỷ đồng (trong khi vốn công ty lúc đó là 34 tỷ đồng) và số lượng cán bộ công nhân viên tăng từ 146 lên 389 người.
Mô hình quản trị của công ty được thiết kế theo hình thức kết hợp "trực tuyến – chức năng":
- Ban Giám đốc: 1 Giám đốc chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật và 3 Phó Giám đốc phụ trách các khối nghiệp vụ và đơn vị trực thuộc.
- Phó Giám đốc 1: Quản lý Phòng Hành chính quản trị, Phòng Tổng hợp (thị trường, giá cả, pháp chế, thống kê, kế hoạch), Phòng Nghiệp vụ 1.
- Phó Giám đốc 2: Quản lý các Phòng Nghiệp vụ 2, 4, 5, 6, 7, 8 và Cửa hàng số 46 Ngô Quyền.
- Phó Giám đốc 3: Quản lý Phòng Nghiệp vụ 3, Công ty May Hải Phòng, 3 chi nhánh (TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng), liên doanh 53 Quang Trung và Khách sạn số 7 Triệu Việt Vương.
- Khối phòng chức năng tham mưu trực tiếp cho Giám đốc: Phòng Kế toán tài vụ và Phòng Tổ chức cán bộ.
- Khối phòng nghiệp vụ:
- Phòng Nghiệp vụ 1: Xuất khẩu nông sản, khoáng sản, thủ công mỹ nghệ.
- Phòng Nghiệp vụ 2: Nhập khẩu xe máy nguyên chiếc, quản lý xưởng lắp ráp xe máy.
- Phòng Nghiệp vụ 3: Gia công xuất khẩu hàng may mặc.
- Phòng Nghiệp vụ 4: Xuất khẩu hàng do công ty sản xuất, nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị.
- Phòng Nghiệp vụ 5: Xuất khẩu nông sản, sợi.
- Phòng Nghiệp vụ 6: Tìm nguồn hàng xuất nhập khẩu tổng hợp (trước đây chuyên cói và sản phẩm cói).
- Phòng Nghiệp vụ 7: Xuất khẩu nông sản, chế biến quặng sắt thép, thực hiện hàng đổi hàng với Trung Quốc.
- Phòng Nghiệp vụ 8: Giao nhận, kho vận, đầu tư và dịch vụ thương mại.
- Các đơn vị sản xuất và cơ sở kinh doanh: Xí nghiệp may Đoạn Xá (Hải Phòng, tạo việc làm cho hơn 300 lao động từ 1994), Xưởng lắp ráp xe máy Tương Mai, Xưởng sản xuất chế biến gỗ Cầu Diễn (Hà Nội), Xí nghiệp chế biến quế (Hà Nội), Xí nghiệp chế biến hạt điều, Cửa hàng 46 Ngô Quyền, Cửa hàng 28 Trần Hưng Đạo. Dự án liên doanh 53 Quang Trung và khách sạn 7 Triệu Việt Vương được đưa vào khai thác năm 1994–1995 với vốn đầu tư ban đầu 20 triệu USD.
Đánh giá mô hình tổ chức: Cơ cấu có ưu điểm tạo sự chỉ huy trực tiếp linh hoạt từ các Phó Giám đốc, nhưng bộ máy còn cồng kềnh. Việc bố trí chức năng chưa triệt để (Phòng Tổng hợp và Hành chính lại thuộc quyền quản lý của Phó Giám đốc thay vì Giám đốc). Đáng chú ý, các Phòng Nghiệp vụ 1, 5, 6, 7 đều cùng tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản tổng hợp mà thiếu sự điều phối thống nhất, dẫn đến hiện tượng trùng lặp thị trường và mặt hàng.
Hiệu quả hoạt động tài chính:
Doanh thu năm 1999 đạt 65.763 triệu đồng (tăng 7,62% so với 1998), năm 2002 tăng 5,81% so với 2001, năm 2003 tăng 5,05% so với 2002. Kim ngạch XNK năm 1999 đạt 56.468 nghìn USD (giảm 12,38% do khủng hoảng khu vực), nhưng phục hồi tăng trưởng ở năm 2002 (+15,26%) và năm 2003 (+26,1%). Lợi nhuận tăng liên tục: năm 1999 tăng 409 triệu đồng so với 1998; các năm 2000, 2001 tăng 412 triệu đồng/năm; năm 2002 tăng 437 triệu đồng so với 2001.
| Chỉ tiêu tài chính |
Năm 2002 |
Năm 2003 |
| Khả năng sinh lời của vốn cố định (Lãi ròng / Nguyên giá bình quân TSCĐ) |
0,14 |
0,16 |
| Khả năng sinh lời của vốn lưu động (Lãi ròng / Nguyên giá bình quân TSLĐ) |
0,11 |
0,12 |
| Vòng quay vốn lưu động (Doanh thu thuần / Vốn lưu động bình quân) |
1,56 vòng |
1,58 vòng |
| Hệ số đảm nhận vốn lưu động (Vốn lưu động bình quân / Doanh thu thuần) |
0,64 |
0,62 |
| Thời gian 1 vòng luân chuyển vốn lưu động (360 / Vòng quay VLĐ) |
230,77 ngày |
227,85 ngày |
Sự cải thiện của các chỉ số tài chính (vòng quay tăng 0,02 vòng, số ngày luân chuyển rút ngắn 2,92 ngày, hệ số đảm nhận giảm từ 0,64 xuống 0,62) phản ánh công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động năm 2003 hiệu quả hơn năm 2002.
Chương II: Thực trạng về thị trường xuất khẩu mặt hàng nông sản của Công ty XNK Tổng hợp I – Bộ Thương mại
Chương II phân tích bối cảnh ngành nông sản Việt Nam, vị thế cạnh tranh quốc tế và thực trạng xuất khẩu của công ty theo cơ cấu thị trường và mặt hàng.
Bối cảnh ngành nông sản xuất khẩu Việt Nam:
Tỷ trọng hàng nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 30% – 35% tổng khối lượng nông sản thực phẩm làm ra trong nước, trong đó tỷ lệ xuất khẩu ở từng mặt hàng cụ thể gồm: cà phê (95%), hạt tiêu (95%), hạt điều (90%), cao su (85%), chè (80%) và lúa gạo (khoảng 20%). Tỷ trọng kim ngạch nông sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước có xu hướng giảm dần do chuyển dịch cơ cấu công nghiệp: từ mức 40% – 45% (trước 1989), xuống 34,8% (1995), 18,8% (2000) và 17,3% (2001).
Đối với mặt hàng gạo, năm 2003 cả nước xuất khẩu 4,2 triệu tấn (tăng 29,4% so với năm 2002, tiệm cận mức kỷ lục 4,508 triệu tấn của năm 1999). Tuy nhiên, do giá xuất khẩu bình quân FOB năm 2003 chỉ đạt 188,2 USD/tấn (giảm 15,9% so với mức 223,9 USD/tấn năm 2002; năm 2000 là 227 USD/tấn, năm 2001 là 167,5 USD/tấn), nên tổng kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước năm 2003 giảm 0,9%, đạt 719 triệu USD. Thị trường châu Á chiếm khoảng 50% lượng gạo xuất khẩu; năm 2003 lần đầu tiên xuất khẩu trực tiếp sang châu Phi đạt 700.000 tấn; tiếp tục xuất 400.000 tấn sang Iraq theo chương trình của Liên Hợp Quốc; ký hợp đồng cung ứng 700.000 tấn/năm trong thời hạn 30 năm với American Rice (Hoa Kỳ).
Phân tích đối thủ cạnh tranh:
- Cạnh tranh quốc tế:
- Gạo: Việt Nam chiếm 15% – 18% thị phần thế giới, đứng thứ hai sau Thái Lan. Năng suất lao động trồng lúa của Việt Nam chỉ bằng 61% của Trung Quốc. Gạo phẩm cấp cao thua kém Thái Lan về bảo quản, đánh bóng, kích thước, hàm lượng ẩm và hương vị. Giá xuất khẩu gạo Việt Nam thấp hơn Thái Lan từ 15 – 20 USD/tấn, thấp hơn Ấn Độ 10 – 12 USD/tấn, thấp hơn Pakistan 12 – 15 USD/tấn.
- Cao su: Giá cao su thiên nhiên của Việt Nam thấp hơn 75% so với sản phẩm cùng loại của Thái Lan và Indonesia.
- Cà phê: Chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các quốc gia xuất khẩu lớn như Brazil và Colombia. Chất lượng cà phê Việt Nam chưa đồng đều ở khâu phơi sấy, phân loại, chủ yếu ký hợp đồng giao ngay, thiếu hợp đồng dài hạn.
- Trà và hàng tiêu dùng: Doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn ngay trên thị trường nội địa trước các thương hiệu quốc tế (Lipton, Dilmah, Qualitea).
- Cạnh tranh nội địa: Xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (bán phá giá, xâm phạm uy tín thương hiệu). Đồng thời, các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI có bộ máy gọn nhẹ, khả năng tài chính linh hoạt tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp nhà nước.
Thực trạng xuất khẩu nông sản tại Công ty XNK Tổng hợp I:
- Cơ cấu thị trường:
- Thị trường Đông Á ngoài ASEAN: Chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty (Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc). Thị trường Trung Quốc có mức tăng trưởng ổn định: kim ngạch năm 2001 đạt 405.629 USD (chiếm 5,85% thị phần công ty), đến năm 2003 tăng lên 479.300 USD (chiếm 6,39%).
- Thị trường EU: Chiếm trên 10% tổng kim ngạch (Đức là đối tác lớn nhất, tiếp theo là Pháp, Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Italia). Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu nông sản của công ty sang EU đạt tỷ trọng 24,53% trong cơ cấu nông sản (tăng 202.600 USD / +12,38% so với 2001 và tăng 96.000 USD / +5,5% so với 2002).
- Thị trường Singapore: Đóng vai trò là thị trường trung chuyển chính đối với các mặt hàng gạo, lạc nhân, cà phê, hạt điều. Công ty chủ động giảm dần tỷ trọng hàng sơ chế qua Singapore để hướng tới xuất khẩu trực tiếp.
- Kim ngạch các mặt hàng nông sản chính của công ty (2001 – 2003):
- Gạo: Năm 2002 đạt 844.200 USD (tăng 0,62% so với 2001); năm 2003 đạt 863.600 USD (tăng 2,32% so với 2002).
- Cà phê: Năm 2002 sụt giảm (chỉ đạt 85,32% so với 2001), năm 2003 phục hồi đạt 587.900 USD (tăng 1,5% so với 2002).
- Lạc nhân: Năm 2003 hồi phục, đạt mức tăng trưởng 3,97% so với 2002.
- Cao su và hạt tiêu: Năm 2003 ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt là 2,15% và 1,31% so với năm 2002.
- Tác động ngoại cảnh: Giai đoạn này thị trường chịu ảnh hưởng biến động từ cuộc chiến tranh Iraq và dịch bệnh SARS (năm 2003), gây gián đoạn các chuỗi giao thương trong khu vực ASEAN và châu Á.
Chương III: Một số giải pháp để duy trì và mở rộng thị trường nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Công ty XNK Tổng hợp I - Bộ Thương mại
Dựa trên các tồn tại về bộ máy, thị trường và năng lực sản phẩm đã chỉ ra ở Chương I và Chương II, định hướng giải pháp của khóa luận tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm:
-
Đổi mới và hợp lý hóa cơ cấu tổ chức quản lý:
- Xóa bỏ tình trạng chồng chéo giữa các Phòng Nghiệp vụ 1, 5, 6, 7 bằng cách phân định rõ chức năng chuyên môn hóa theo từng nhóm mặt hàng hoặc từng khu vực địa lý thị trường cụ thể.
- Thành lập hoặc củng cố bộ phận chuyên trách về Nghiên cứu thị trường và Marketing trực thuộc Phòng Tổng hợp để tập trung đầu mối thu thập thông tin, dự báo giá cả và xây dựng chiến lược xúc tiến thương mại quốc tế.
-
Nâng cao chất lượng sản phẩm và chuyển dịch cơ cấu nông sản xuất khẩu:
- Đầu tư công nghệ sau thu hoạch, cải tiến hệ thống phơi sấy, kho bảo quản và đóng gói tại các xí nghiệp trực thuộc (chế biến quế, chế biến hạt điều, chế biến gỗ) nhằm khắc phục nhược điểm xuất khẩu nông sản thô hoặc mới qua sơ chế.
- Tăng cường kiểm soát các chỉ tiêu cơ lý và vệ sinh an toàn thực phẩm (độ ẩm, tỷ lệ tấm, tạp chất) đối với gạo, cà phê và lạc nhân để đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe tại các thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
-
Linh hoạt hóa các phương thức kinh doanh và chính sách thị trường:
- Kết hợp hài hòa giữa xuất khẩu tự doanh và nhận ủy thác xuất nhập khẩu; đẩy mạnh hoạt động gia công và tạm nhập tái xuất đối với các mặt hàng có giá trị gia tăng cao.
- Tận dụng triệt để các ưu đãi thuế quan theo chương trình CEPT của khu vực mậu dịch tự do AFTA khi xuất khẩu sang các nước thành viên ASEAN, đồng thời chủ động tiếp cận thị trường các nước phát triển sau khi Hiệp định Thương mại song phương và các thỏa thuận thương mại có hiệu lực.
-
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ ngoại thương, năng lực đàm phán hợp đồng quốc tế, trình độ ngoại ngữ và kỹ năng ứng dụng tin học cho đội ngũ cán bộ công nhân viên.
- Tiếp tục duy trì chính sách tiền lương, tiền thưởng thỏa đáng (thu nhập bình quân giai đoạn này đạt khoảng 1 triệu đồng/người/tháng) nhằm tạo động lực kinh tế gắn liền trách nhiệm của người lao động với kết quả kinh doanh của công ty.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã khái quát và cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về hoạt động của một doanh nghiệp xuất nhập khẩu tổng hợp nhà nước trong giai đoạn bản lề của tiến trình hội nhập:
- Phản ánh trung thực lịch sử chuyển đổi doanh nghiệp qua sự kiện sáp nhập Promexim năm 1993, lượng hóa bức tranh tài chính khi xử lý 37 tỷ đồng nợ khó đòi trên quy mô vốn 34 tỷ đồng.
- Cung cấp số liệu chi tiết về năng lực tài chính và luân chuyển vốn giai đoạn 2002 – 2003: khả năng sinh lời vốn cố định tăng từ 0,14 lên 0,16; vốn lưu động tăng từ 0,11 lên 0,12; rút ngắn chu kỳ luân chuyển vốn lưu động xuống còn 227,85 ngày.
- Bóc tách cơ cấu thị trường xuất khẩu nông sản: chỉ rõ thị trường Đông Á ngoài ASEAN chiếm trên 50%, EU chiếm trên 10% (đạt 24,53% trong cơ cấu nông sản năm 2003), làm rõ vai trò trung chuyển của Singapore và sự tăng trưởng của thị trường Trung Quốc (từ 405.629 USD năm 2001 lên 479.300 USD năm 2003).
- Chỉ ra các chỉ số cụ thể về bất lợi cạnh tranh giá của nông sản Việt Nam (gạo rẻ hơn Thái Lan 15–20 USD/tấn, cao su thấp hơn 75% giá trị khu vực) và những hạn chế nội tại của doanh nghiệp về công tác marketing, tình trạng phân tán nguồn lực giữa các phòng nghiệp vụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Văn bản là bài thu hoạch thực tập tốt nghiệp thực hiện năm 2004, tác giả đã tự nhận định hạn chế về mặt kiến thức lý luận chuyên sâu và kinh nghiệm cọ xát thực tế. Chuỗi dữ liệu phân tích tập trung chủ yếu đến năm 2003. Phần văn bản tư liệu bị ngắt đoạn ở cuối Chương II (đoạn phân tích về dịch bệnh SARS) và phần giải pháp Chương III được trình bày khái quát dựa trên các tồn tại đã xác lập từ hai chương trước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần cập nhật số liệu và đánh giá tác động khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau năm 2006; nghiên cứu sâu hơn về tác động của các rào cản kỹ thuật (SPS, TBT) tại thị trường EU và Hoa Kỳ đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của GENERALEXIM.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh khi nghiên cứu về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản và phương thức phân tích báo cáo tài chính, luân chuyển vốn trong doanh nghiệp thương mại.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế quan tâm đến mô hình chuyển đổi, sáp nhập và tái cơ cấu của các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Thương mại giai đoạn 1981 – 2004.
- Cán bộ nghiệp vụ tại các doanh nghiệp thương mại tổng hợp tham khảo trong việc tổ chức phân công phòng ban nghiệp vụ và kiểm soát chi phí luân chuyển vốn lưu động.
Câu hỏi thường gặp
1. Công ty XNK Tổng hợp 1 (GENERALEXIM) được thành lập vào thời gian nào và trực thuộc cơ quan nào?
Công ty được chính thức thành lập vào ngày 15/12/1981 theo Quyết định số 1365/TTCB của Bộ Ngoại thương (sau này là Bộ Thương mại) và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 3/1982.
2. Sự kiện sáp nhập năm 1993 đã tác động như thế nào đến quy mô nhân sự và tình hình tài chính của GENERALEXIM?
Theo Quyết định số 858/TCCB ngày 01/08/1993 của Bộ Thương mại, Công ty Promexim được sáp nhập vào GENERALEXIM. Sự kiện này làm số lượng cán bộ công nhân viên tăng từ 146 lên 389 người; doanh nghiệp phải tiếp nhận khoản nợ khó đòi 2,1 tỷ đồng và khoản lỗ 900 triệu đồng, nâng tổng nợ khó đòi của hai đơn vị lên tới 37 tỷ đồng trong khi vốn của công ty tại thời điểm đó chỉ có 34 tỷ đồng.
3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty tồn tại những nhược điểm gì theo phân tích của tác giả?
Mô hình quản trị có bộ máy cồng kềnh, việc áp dụng mô hình trực tuyến - chức năng chưa triệt để (Phòng Tổng hợp và Phòng Hành chính quản trị lại nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của các Phó Giám đốc). Ngoài ra, các Phòng Nghiệp vụ 1, 5, 6, 7 đều tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản tổng hợp mà không có sự chỉ đạo điều phối thống nhất, dẫn đến hiện tượng chồng chéo về thị trường và mặt hàng.
4. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty trong hai năm 2002 và 2003 thay đổi ra sao?
Khả năng sinh lời của vốn lưu động tăng từ 0,11 (năm 2002) lên 0,12 (năm 2003); số vòng quay vốn lưu động tăng từ 1,56 vòng lên 1,58 vòng; hệ số đảm nhận vốn lưu động giảm từ 0,64 xuống 0,62; thời gian một vòng luân chuyển vốn lưu động được rút ngắn từ 230,77 ngày xuống còn 227,85 ngày.
5. Những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của GENERALEXIM và các thị trường trọng điểm giai đoạn 2001 – 2003 là gì?
Các mặt hàng xuất khẩu thường xuyên với khối lượng lớn gồm gạo, lạc nhân, cà phê, hạt tiêu và cao su. Các thị trường nhập khẩu chủ yếu gồm khối Đông Á ngoài ASEAN (Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc - chiếm trên 50% kim ngạch), khối Liên minh Châu Âu EU (Đức, Anh, Pháp - chiếm trên 10% tổng kim ngạch và chiếm 24,53% kim ngạch nông sản năm 2003), Singapore (thị trường trung chuyển) và các nước trong khối ASEAN.
Kết luận
Bài khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Việt Ngọc đã phản ánh toàn diện thực trạng tổ chức kinh doanh và thị trường xuất khẩu nông sản tại Công ty XNK Tổng hợp 1 – Bộ Thương mại giai đoạn 1998 – 2003. Công trình kết hợp chặt chẽ giữa việc phân tích các chỉ số tài chính, cơ cấu quản trị nội bộ với bức tranh cạnh tranh thương mại nông sản của Việt Nam trên trường quốc tế. Những hạn chế về chất lượng sơ chế, sự phân tán đầu mối nghiệp vụ và rào cản tiếp thị được nhận diện khách quan, làm cơ sở cho các định hướng giải pháp duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp.