CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE DỊCH VỤ PHAP LY VA CÁC HIỆP DINH THUONG MAI TU DO THE HE MOI 1.1 Dich vu phap ly 1.1 Khai niém dich vu phap ly Dich vụ là thuật ngữ xuất hiện ở các nước từ lâu nhưng được sử dụng ngày càng pho biến ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây. Tuy vậy, cách hiểu về thuật ngữ này và nội hàm của nó cũng không giống nhau. Theo Từ dién tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học: "Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cau nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công" [14]. Từ điển tiếng Nga của Odzegove định nghĩa: "Dịch vụ là hành vi mang lại lợi ích, là sự giúp đỡ của một người nào đó".
Theo Từ điển Anh — Việt của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa: "Dịch vụ là sự phục vụ, phục dịch, sự làm việc. Theo Từ điển Luật học Việt Nam, dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ do những tô chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đỡ về mặt pháp lý của các tô chức, cá nhân trong xã hội. Người cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm mục đích thu lợi và được coi như một nghề. Người được hưởng dịch vụ pháp lý được thoả mãn những yêu cầu hiểu biết hay công việc cụ thể và phải trả phí (giá) dịch vụ cho người cung cấp” [16].
Với khái niệm như vậy, chủ thể (tổ chức, cá nhân) cung cấp dich vụ pháp lý phải bảo đảm các điều kiện cần và đủ sau: (i) Phải là người có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật (được dao tạo, bồi dưỡng và có văn bằng, chứng chỉ phù hợp). (iii) Phải hoạt động trong một tổ chức hoặc dưới hình thức được pháp luật cho phép. (iv) Phải thực hiện hoạt động đáp ứng nhu cầu được biết, được tư van hoặc giúp đỡ về mặt pháp lý của các tô chức, cá nhân trong xã hội. (v) Được thu phí hoặc thù lao theo quy định của pháp luật.
Điều 1 Đạo luật Dịch vụ pháp lý của Vương quốc Anh năm 2007 không đưa ra định nghĩa cụ thể về dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, quy định phạm vi của dịch vụ pháp lý bao gồm các hành vi: (i) Bảo vệ và phát triển lợi ích công cộng, (11) Phát triển nhà nước pháp quyên, (iii) Bảo vệ và phat triển lợi ích của người tiêu dùng, (iv) Đảm bảo sự cạnh tranh, phát triển bình đăng theo quy định pháp luật, (v) Phát triển, duy trì, đảm bảo tuân thủ phát luật. Điều 2 Đạo luật Quản lý dịch vụ pháp lý của Ấn Độ năm 1987 định nghĩa dịch vụ pháp lý bao gồm việc thuê thực hiện tư van pháp lý trước lý tòa án hoặc bat cứ cơ quan tài phán nào hay tư vấn về bat cứ van đề pháp lý nào phát sinh. Dé có cách hiểu thong nhất về dịch vụ trong quan hệ quốc tế và công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, Liên hợp quốc đã công bố Bảng phân loại tạm thời các dich vụ chủ yếu (PCPC) năm 1991 và đến năm 1997 có Bảng phân loại dịch vụ chủ yếu (CPC).
PCPC và CPC không đưa ra định nghĩa về dịch vụ, nhưng các hành vi được liệt kê trong bang đó được gọi là dịch vụ. Thuật ngữ "thương mại dịch vụ” xuất hiện trong thời gian gần đây, trong quá trình đàm phán vòng Uruguay về việc thành lập WTO (1986-1994). Thương mại dịch vụ đã trở thành bộ phận quan trọng của WTO, được các nước thành viên WTO hiểu thống nhất theo quy định chung của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). GATS là hiệp định đa biên đầu tiên đưa ra định nghĩa "thương mại dịch vu" và các nguyên tắc bắt buộc thi hành khi tiến hành hoạt động thương mại dịch vụ.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều I của GATS, "thương mại dịch vu" được hiểu là sự cung cấp dịch vụ (phương thức cung cấp dịch vụ): a. Từ lãnh thổ của một thành viên này đến lãnh thé của bất kỳ một thành viên nào khác; b. Trên lãnh thổ của một thành viên này cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác; c. Bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện thé nhân trên lãnh thổ của bat kỳ thành viên nào khác; d.
Bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên này thông qua sự hiện diện thé nhân trên lãnh thé của bat kỳ thành viên nào khác. Theo Khoản 3 Điều I của GATS, "dịch vụ" ở đây phải được hiểu là bất kỳ dich vụ nào trong bat kỳ lĩnh vực nào, trừ các dịch vụ được cung cấp trong thực thi thâm quyền của Chính phủ, tức ngoại trừ các dịch vụ được cung cấp không trên cơ sở thương mại, cũng như không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều người cung cấp dịch vụ. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ tại Điều | Chương III cũng có quy định tương tự quy định tại Điều I của GATS/WTO về thương mại dịch vụ. Khi nghiên cứu khái niệm thương mại dịch vụ cũng cần chú ý đến khái niệm "quốc tế", thuật ngữ "quốc tế" về cơ bản được hiểu khá thống nhất trong lý luận pháp luật quốc tế.
Yếu tố quốc tế trong quan hệ thương mại dịch vụ có thé rất khác nhau. Nó có thé là các quốc gia, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào quan hệ thương mại dịch vụ. Nó cũng có thể là sự kiện pháp lý làm nảy sinh, thay đổi hoặc cham dứt quan hệ thương mại dịch vụ xảy ra ở nước ngoài. Tuy vậy, khi phân tích khái niệm "thương mai dịch vu" theo quy định của GATS/WTO thì yếu tố quốc tế ở đây có thể được biểu hiện rõ nét qua việc tô chức, cá nhân cung cấp dịch vụ và t6 chức, cá nhân sử dụng dịch vụ có trụ sở hoặc nơi cư trú ở hai nước khác nhau (Phương thức 1 — Cung ứng qua biên giới).
Nhu vậy, cư trú ở nước ngoài hoặc trụ sở ở nước ngoài cũng có thé là yếu tố quốc tế trong quan hệ thương mại dịch vụ. Ngoài ra, do thương mại dịch vụ được tiến hành thống nhất theo GATS/WTO thông qua bốn phương thức khác nhau (cung ứng qua biên giới; tiêu thụ ở nước ngoài; hiện diện thương mại và hiện diện thé nhân) cho nên yếu tô quốc tế ở đây chủ yêu tồn tại dưới dạng quốc tịch của các chủ thể quan hệ thương mại dịch vụ 10 khác nhau, tức tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ có quốc tịch khác với quốc tịch của tô chức, cá nhân sử dụng dịch vụ. Đây là điểm đặc trưng của quan hệ thương mại dịch vụ quốc tế và cần được chú ý khi điều chỉnh pháp luật các quan hệ đó. Như vậy, dịch vụ pháp lý có thể được định nghĩa là tổng thé các dich vụ tư vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý được thành lập, thực hiện theo quy định pháp luật của các nước nơi dịch vụ đó được định lập, có thể được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật nội dung và thủ tục tố tụng khác nhau của hệ thống pháp luật quốc gia.2 Dịch vụ pháp lý theo quy định của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ Một trong những đặc điểm chính của dịch vụ là tính vô hình và không thể sờ thấy được, ngược lại với hàng hóa là hữu hình và có thé sờ nắm được.
Theo GATS, dịch vụ bao gồm 12 nhóm chính, trong đó có nhóm "dịch vụ thương mại" bao gồm "dich vụ nghề nghiệp" và "dịch vụ pháp lý" là một loại dịch vụ trong nhóm này. GATS không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về dịch vụ pháp lý mà chỉ đưa ra một định nghĩa khái quát. Theo GATS, dịch vụ pháp lý bao gồm "các dịch vụ về tư vấn và đại diện, cũng như tất ca các hoạt động khác liên quan đến tố tụng" (như hoạt động của thâm phán, thư ký tòa án, công tố. Tuy nhiên, khía cạnh thứ hai (hoạt động liên quan đến tố tụng) đã bị loại ra khỏi phạm vi của GATS do cơ quan nha nước có thâm quyên thực hiện.
Vì vậy, GATS chỉ quy định về các dịch vụ đại diện và tư vấn trong một số ngành luật và thủ tục pháp lý. GATS chú trọng vào từng bước tự do hóa dan dan việc cung cấp dich vụ thương mại và xóa bỏ các cản trở thương mại đối với việc tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ. Việc đàm phán giữa các nước thành viên WTO hiện déu tập trung vào việc xóa bỏ các hạn chê đôi với ca bon 11 phương thức cung cấp dịch vụ dựa trên hai nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MEN) và đối xử quốc gia (NT). Theo Danh mục phân loại các lĩnh vực dịch vụ (Danh mục CPC), dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ kinh doanh hay dịch vụ nghề nghiệp (CPC 861) và được phân loại như sau: e Dịch vụ tư van và đại diện liên quan đến luật hình sự (86111); e Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục tư pháp liên quan tới các lĩnh vực pháp luật khác (86119); e Dịch vụ tư vấn pháp luật va đại diện trong các thủ tục pháp lý trước các hội đồng tư pháp (có thâm quyền như tòa án) (86120); e Dịch vụ về văn ban pháp luật và xác nhận (86130); và e_ Các thông tin tư vấn pháp lý khác (86190).
Dịch vụ tư vấn pháp luật, theo cách hiểu chung nhất, là hoạt động cung cấp các ý kiến pháp lý nói chung của những người có kiến thức về mặt pháp lý được pháp luật cho phép các tổ chức, cá nhân có yêu cầu (sau đây gọi chung là khách hàng) và khách hàng sẽ phải trả một khoản phí tương ứng. Nói một cách cụ thê hơn, theo yêu cầu của khách hàng, người tư vấn pháp luật sẽ đưa ra các ý kiến pháp lý đối với trường hợp mà khách hàng đưa ra, thực hiện các công việc theo yêu cầu của khách hàng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ một cách tốt nhất. Tóm lại, tư vấn pháp luật có thể là việc giải thích pháp luật, hướng dẫn thực hiện pháp luật; sau đó có thể tự mình thực hiện các công việc pháp lý giúp đỡ khác hàng. Ví dụ như soạn thảo hợp đồng mà khách hàng là một bên trong hợp đồng đó.