Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ của công ty TNHH ATL Global Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ của công ty TNHH Global 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng khá phổ biến, cạnh tranh được xem là sự ganh đua, tranh đấu giữa các chủ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định nào đó. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam 1995: Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Theo Luật cạnh tranh 2004, “ Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều về phía mình khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường, qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn.” Theo nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter 1996: “ Cạnh tranh là việc giành giật từ đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh không phải tiêu diệt đối thủ mà là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ cạnh tranh để họ có thể lựa chọn cho mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh”. Tóm lại, cạnh tranh trong kinh doanh là sự ganh đua nhau giữa các công ty bán các sản phẩm tương tự hoặc nhắm đến cùng một đối tượng mục tiêu để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh (hay “khả năng cạnh tranh”, “ tính cạnh tranh”) là sức mạnh tương đối của một chủ thế kinh tế trong tương quan với các chủ thể kinh tế khác.
Năng lực cạnh tranh (Competitiveness) là những yếu tố thể hiện năng lực thực sự có với những ưu điểm, lợi thế của chủ thể kinh doanh so với các đối thủ cạnh tranh 9 khác, hay theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khái niệm cho rằng năng lực cạnh tranh năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất lao động. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) 1961: “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đôi cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả” làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh theo Porter (1980) về lý thuyết thường dựa vào tiền đề là các DN cùng chung một ngành, có tính đồng nhất cao về chiến lược kinh doanh cũng như các nguồn lực mà họ sử dụng. Hơn nữa yếu tố khác biệt dễ dàng bị các đối thủ bắt chước, nên lý thuyết cạnh tranh dựa vào sự khác biệt nhận định LTCT của các DN cùng chung một ngành thường không thể tồn tại lâu dài (Barney, 1991).
Các tiền đề trên thường rất khó thỏa mãn. Vì vậy, Wernerfelt (1984) đã đưa ra lý thuyết về nguồn lực của DN (RBV- Resource Based View of the Firm), một cách tiếp cận khác biệt mà nhiều tác giả sau này đã phát triển cũng như xây dựng RBV trở thành lý thuyết khung khi nghiên cứu về cạnh tranh của các DN. Như vậy, quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chưa được thống nhất, vấn đề là phải tìm được một khái niệm phú hợp với cả về điều kiện, bối cảnh, trình độ phát triển của từng thời kỳ, thể hiện được phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đối phó đucowj những tình huống bất lợi nhất chứ không chỉ dựa vào lợi thế so sánh. Có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: “khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Để đánh giá độ hiệu quả các của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta sẽ dựa vào các tiêu chí sau đây: - Danh tiếng và thương hiệu: Đây sẽ là điều kiện để kích thích khách hàng nhanh chóng đặt mua sản phẩm. Và có được điều này, thị trường của bạn phải tăng lên đáng kể 10 - Hiệu quả sản xuất kinh doanh: Để đánh giá tiêu chí này, người ta sẽ dựa vào 2 yếu tố chính đó là: năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao thì năng lực cạnh tranh càng lớn. Còn về chất lượng sản phẩm sẽ là yếu tố mang lại sự cạnh tranh cao nhất.
- Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường: đây là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Thị phần càng lớn, sản phẩm của doanh nghiệp càng được ưa chuộng. - Để phát triển thị phần doanh nghiệp cần phản tiến hành xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm, cung cấp sản phẩm uy tín, chất lượng… - Trách nghiệm xã hổi: Để chiếm được lòng tin của khách hàng cũng như có năng lực cạnh tranh cao, các sản phẩm cuar doanh nghiệp phải đảnh bảo không gây ô nhiễm. Bên cạnh đó, sản phẩm phải được cấp chứng chỉ an toàn môi trường theo ISO 14000 hoặc theo tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn Việt Nam 2.
Các cấp độ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được chia thành ba cấp độ khác nhau gồm: cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp.1 Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh quốc gia" thường được sử dụng khi đánh giá năng lực của các quốc gia ở tầm vĩ mô. Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là dựa trên các trụ cột của một diễn đàn kinh tế nổi tiếng thì năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia. Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh thì có xu hướng có thể đem tới mức thu nhập cao hơn cho các công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn hơn và do đó có thể phát triển nhanh hơn trong tương lai trung và dài hạn. Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”.
Theo tổ chức này thì năng lực cạnh tranh của quốc gia được đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị trường tài chính, môi trường 11 công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động, môi trường pháp lý. Như vậy, năng lực cảu một quốc gia là khả năng của một đất nước sau khi thực hiện các công việc trong một quá trình dài thì đạt được những vượt trội bền vững, nhanh chóng về mức sống. Hoặc có thể hiểu qua những giá trị, mức sống, nguồn thu nhập của người dân tại quốc gia đó. Nhiều quan điểm còn cho rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia còn được thể hiện qua hiệu suất sản xuất của quốc gia đó.
Và nguồn tác dộng vào năng lực này chính là dựa vào nguồn nhân lực, nguồn vốn và nguồn tài nguyên của quốc gia hoặc những chính sách hỗ trợ hoạt động đầu tư, thu hút nguồn vốn nước ngoài.2 Năng lực cạnh tranh cấp ngành Năng lực cạnh tranh cấp ngành Theo IMD (2004): “Năng lực cạnh tranh ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất”. Theo Franziska Blunck (2015), “NLCT của một ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các DN trong ngành so với các đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp”. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã có khái niệm NLCT của ngành như sau: “NLCT của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Như vậy, có thể hiểu: “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng cạnh tranh của toàn ngành của một quốc gia so với các quốc gia khác”.
Điều này có nghĩa là nếu các yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của một ngành cao, thì quốc gia đó sẽ có năng lực cạnh tranh về ngành liên quan cao. Sức cạnh tranh không chi thể hiện sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, của ngành mà còn tạo nên sức cạnh tranh của một quốc gia.3 Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp 12 Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở cấp độ này, chỉ số cạnh tranh thể hiện ở các yếu tố như khả năng sinh lợi nhuận, chi phí, năng suất sản xuất và thị phần. Bên cạnh đó, các yếu tố như các kỹ năng quản trị, tài chính, những kiến thức về mặt công nghệ, bản chất của thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (Theo Công nghiệp Canada 1995, OECD 1992 và Grossi 1990).
Bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc khác biệt so với đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.