CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH THỰC THI CPTPP 1. Cơ sở lý luận về hàng nông sản và xuất khẩu hàng nông sản: 1. Cơ sở lý luận về hàng nông sản: Khái niệm: Nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng. Sản phẩm nông nghiệp bao gồm nhiều nhóm hàng thực phẩm, tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dược phẩm và ma túy bất hợp pháp (thuốc lá, cần sa), các sản phẩm độc đáo đặc thù.
Ngày nay, nông sản còn hàm nghĩa những sản phẩm từ hoạt động làm vườn và thực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất là đất. Nông sản hàng hoá là khái niệm dùng để chỉ các loại nông sản mà người nông dân sản xuất ra với mục đích bán ra thị trường. Ngược với nông sản hàng hoá là nông sản phục vụ cho mục đích tự sản, tự tiêu. Đặc điểm của mặt hàng nông sản: Bản chất của nông sản là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi.
Một mặt hàng nông sản bao gồm những đặc điểm sau: ➢ Tính thời vụ: Tính thời vụ chính là nét đặc thù điển hình nhất của mặt hàng nông sản. Nó thể hiện cho quá trình nuôi trồng, sinh trưởng và thu hoạch luôn đi cùng và nối tiếp nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được bởi vì đó là quy luật sinh trưởng của tạo hóa tự nhiên do vậy thường có những mùa vụ khác nhau trong quá trình sản xuất. Nông sản thường sẽ đa dạng, phong phú, dồi dào và sinh trưởng tốt khi được nuôi trồng đúng vào chính mùa vụ của nó.
Ngược lại khi trái vụ, nông sản sẽ trở nên khan hiếm về chủng loại đồng thời không đạt chất lượng tốt, hiếm có nông sản sạch. 5 ➢ Phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Tùy thuộc vào sự biến đổi của khí hậu, điều kiện tự nhiên mà mỗi loại nông sản có một tính thích ứng riêng. Tốc độ sinh trưởng, chất lượng nông sản phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như độ màu mỡ của đất đai, khí hậu và thời tiết. Nếu được trồng và nuôi trong điều kiện thuận lợi, nông sản sẽ phát triển mạnh, cho sản lượng và chất lượng cao.
Ngược lại sẽ cho năng suất thấp, sụt giảm về chất lượng nếu sinh trưởng trong điều kiện kém thuận lợi. Ví dụ như cây bông cải (súp lơ), khi được trồng ở vùng đất trong nhiệt độ từ 15 – 18 độ C, cây sẽ phát triển rất tốt. Còn nếu trong môi trường từ 25 độ C trở lên, cây sinh trưởng rất kém, mau già, cho hoa bé và dễ nở. ➢ Chất lượng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng Khi mua bất kỳ mặt hàng nông sản nào, người tiêu dùng luôn ưu tiên và chú trọng vào tiêu chí chất lượng.
Nông sản phải trải qua nhiều giai đoạn kiểm định về vệ sinh an toàn thực phẩm mới được bán trên thị trường. Điều này nhằm bảo vệ sự an toàn cho sức khỏe và tính mạng của người mua khi sử dụng. Do vậy, khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì những yêu cầu về chất lượng nông sản sẽ càng khắt khe hơn. ➢ Nông sản có tính đa dạng Nông sản có đặc điểm đa dạng bởi vì mỗi loại nông sản sẽ sinh trưởng trong từng vị trí địa lý, điều kiện đất đai, tính chất thời tiết,… và cách thức chăm sóc khác nhau.
Mỗi lợi thế tự nhiên sẽ tạo nên một đặc tính khác nhau cho từng loại nông sản. Có nhóm nông sản chịu nhiệt tốt, cũng có nhóm nông sản chịu lạnh, chịu nước tốt hơn. Do vậy tùy từng đặc tính để nông dân có cách chăm sóc, bảo vệ để nông sản sinh trưởng đạt chất lượng cao nhất. Phân loại: Hàng nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: -Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản:lúa gạo, lúa mì, bột mì, sữa, động vật tươi sống (trừ cá và các sản phẩm từ cá), cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,….) -Các sản phẩm phái sinh: bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt,….
6 -Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp: bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô, DDSG và nhiều sản phầm khác. Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản được chia làm hai nhóm, gồm nông sản nhiệt đới và nhóm còn lại. Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bông và nhóm có sợi khác như đay, lanh, những loại quả (như chuối, xoài, ổi và một số nông sản khác) được xếp vào nhóm nông sản nhiệt đới. Trên thực tế, nhóm nông sản nhiệt đới được sản xuất chủ yếu bởi các nước phát triển.
Một số loại nông sản nổi tiếng : lúa gạo, vải, cà phê,…. Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng nông sản: Khái niệm: Trước tiên, xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa hay dịch vụ cho một quốc gia khác. Mục đích mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, phát triển thương mại và kinh tế của từng quốc gia. Như vậy, xuất khẩu còn được hiểu là hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng giữa các quốc gia với nhau.
Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam định nghĩa: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Như vậy xuất khẩu nông sản có thể được hiểu là nông sản được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật và bán cho các nước khác nhằm đem lại lợi ích trong phát triển kinh tế. Đặc điểm của xuất khẩu nông sản: - Xuất khẩu nông sản chịu ảnh hưởng tính thời vụ cao trong sản xuất nông nghiệp và tác động bởi điều kiện tự nhiên, khí hậu. - Nông sản xuất khẩu thường có tính vùng miền rõ rệt, mỗi quốc gia hay mỗi vùng miền đều có những mặt hàng nông sản đặc trưng.
- Chủng loại và chất lượng nông sản xuất khẩu thường đa dạng và phong phú 7 - Nông sản thường là những hàng hóa thiết yếu đối với mỗi quốc gia và phải đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, do vậy xuất khẩu nông sản phải đáp ứng được các yếu tố kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm khi xuất khẩu sang các quốc gia khác. - Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu có đặc tính tươi sống nên khó bảo quản trong thời gian dài. - Giá cả nông sản xuất khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của cung cầu nông sản trên thị trường và cung hàng nông sản lại chịu tác động mạnh của yếu tố khách quan về điều kiện tự nhiên luôn thay đổi nên giá nông sản thường không ổn định và có biên độ dao động khá lớn. Vai trò của xuất khẩu nông sản: Xuất khẩu nông sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia.
Xuất khẩu nông sản đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phong phú và đa dạng của người tiêu dùng, giúp giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống của người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước. -Thứ nhất, xuất khẩu nông sản góp phần vào phát triển xuất khẩu của quốc gia. Xuất khẩu nông sản sẽ thu về nguồn ngoại tệ cho đất nước, giảm thâm hụt cán cân thương mại, tích lũy phát triển sản xuất như việc đầu tư nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất. Khai thác hiệu quả nguồn lực của quốc gia -Thứ hai, xuất khẩu nông sản giúp mở rộng quy mô xuất khẩu, nâng cao hiệu quả xuất khẩu, duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
-Thứ ba, nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều lao động nên hoạt động xuất khẩu nông sản sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người lao động, góp phần ổn định xã hội. Xuất khẩu nông sản giúp các doanh nghiệp nông nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và đất nước. -Thứ tư, xuất khẩu nông sản làm tăng hiệu quả sử dụng vốn trong ngành nông nghiệp, có vai trò kích thích đổi mới công nghệ, trang thiết bị ngày càng hiện đại và phương thức quản lý tiên tiến đáp ứng sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như ngành nông nghiệp nói riêng. -Thứ năm, xuất khẩu nông sản sẽ giúp phát huy được lợi thế của đất nước, tận dụng được nguồn lực sẵn có của quốc gia cũng như doanh nghiệp.
Sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước, tiết kiệm chi phí xã hội. -Thứ sáu, xuất khẩu nông sản góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp và sản phẩm. Xuất khẩu nông sản sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng, giá cả cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của thị trường nhập khẩu. Phát triển xuất 8 khẩu nông sản sẽ đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tích cực, gia tăng các sản phẩm chế biến, chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp.
Xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển 1.Giá trị xuất khẩu Ở các nước đang phát triển giá trị xuất khẩu nông sản của có thể thay đổi theo thời gian, theo từng quốc gia cụ thể và phụ thuộc vào yếu tố như thời tiết, giá cả thế giới, chính trị và sự biến động trong nền kinh tế. Thông tin về giá nông sản xuất khẩu có giá trị của các nước đang phát triển có thể được cập nhật hàng năm qua các báo cáo và thống kê từ các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc (UN), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực tế (FAO), và Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO). Các nước đang phát triển thường có tiềm năng lớn trong lĩnh vực nông sản có diện tích đất cánh tác rộng lớn.