CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CPTPP VÀ EVFTA TỚI XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về tác động của FTA tới xuất khẩu 1. Khái niệm Hiệp định thương mại tự do FTA a. Quan niệm truyền thống về FTA Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement), viết tắt là FTA: là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên bên cạnh việc tiếp tục duy trì chế độ thuế quan độc lập với hàng nhập khẩu từ các quốc gia bên ngoài FTA.
Các nội dung mà FTA đề cập đến thường bao gồm: quy định về việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; quy định danh mục hàng hóa đưa vào cắt giảm thuế quan; quy định lộ trình cắt giảm thuế quan và quy định về quy tắc xuất xứ. Các nhà kinh tế học cùng thời cũng đã đưa ra những quan điểm, khái niệm tương tự như GATT (1947): FTA là hiệp định bao gồm các thỏa thuận ưu đãi về mặt thuế quan đối với các nước thành viên khu vực thương mại tự do của Hiệp định và vẫn giữ sự phân biệt đối với các quốc gia không phải thành viên của hiệp định này. Cụ thể, Krueger (1995) cho rằng FTA là một thỏa thuận ưu đãi, trong đó thuế quan giữa các nước thành viên bằng 0. Bên cạnh đó, Hill (2008) cũng nhấn mạnh rằng nghĩa vụ của các nước thành viên không chỉ là loại bỏ hàng rào thuế quan mà còn cả các hạn chế về số lượng và rào cản về thủ tục hành chính.
Quan niệm mới về FTA FTA thế hệ mới không còn được hiểu với phạm vi hẹp và “nông” như trước mà đã được áp dụng đối với các thỏa thuận hội nhập kinh tế “sâu” hơn về mức độ tự do hóa. Nếu FTA truyền thống là sự thỏa thuận về tự do hóa thương mại hàng hóa hữu hình, cắt giảm thuế quan và cùng nhau thỏa thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan thì phạm vi cam kết của FTA hiện đại bao gồm những lĩnh vực rộng hơn như thuận lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm công, chính sách cạnh tranh, các biện pháp phi 11 thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề dân chủ, nhân quyền hay chống khủng bố. Các FTA hiện đại này còn được gọi là FTA thế hệ mới, khi có hiệu lực sẽ tác động mạnh mẽ tới thể chế của các bên liên quan. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là “xương sống” trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia và Việt Nam cũng không hề ngoại lệ.
Tính đến tháng 8/2022, Việt Nam đã tham gia 15 Hiệp định Thương Mại Tự Do (FTA) đã ký kết và có hiệu lực, điển hình như: EVFTA, UKVFTA, CPTPP, RCEP, AHKFTA, AFTA… Đây là các Hiệp định “FTA thế hệ mới” toàn diện, bao gồm: Thương mại hàng hóa, dịch vụ, điện tử; phòng vệ thương mại; đầu tư; quy tắc xuất xứ; các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS); thuận lợi hóa hải quan; hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT); sở hữu trí tuệ; cạnh tranh; mua sắm công; phát triển bền vững; thể chế và pháp lý. Các FTA này đã nâng tầm quốc gia Việt Nam trở thành một nền kinh tế có độ mở lớn và có quan hệ thương mại với hơn 230 thị trường trên thế giới. Đây là một tín hiệu tích cực để Việt Nam có thể tham gia sâu rộng vào các chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tác động của FTA thế hệ mới tới hoạt động xuất khẩu a.
Tác động tĩnh Trong nghiên cứu của Trần Thị Trang và Đỗ Thị Mai Thanh (2018) có đề cập đến tác động tĩnh hay còn gọi là tác động thương mại. Khi ký các FTA, các thành viên sẽ được hưởng ưu đãi, trong đó có việc cắt giảm hoặc xóa bỏ các hàng rào thuế quan. Với việc này, xuất hiện tình trạng có hàng hóa thông qua nhập khẩu sẽ rẻ hơn so với hàng hóa sản xuất trong nước do có chi phí sản xuất cao hơn. Tác động thương mại được thể hiện ở tác động tạo lập thương mại và tác động chuyển hướng thương mại.
Trong đó, tạo lập thương mại là việc thay thế hàng sản xuất trong nước có chi phí cao của một nước thành viên bằng hàng nhập khẩu rẻ hơn từ một nước thành viên khác do kết quả của tự do hóa thương mại trong khối; chuyển hướng thương mại diễn ra khi hàng nhập khẩu từ một nước không phải thành viên trong liên minh thuế quan (nhưng sản xuất hiệu quả hơn) bị thay thế bởi hàng nhập khẩu có giá thành cao hơn từ một nước thành viên do tác động của các ưu đãi trong nội bộ khối. 12 Tác động tĩnh của FTA sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu nội khối và cũng vì vậy thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu thương mại của các nước thành viên FTA. Đối với các FTA thế hệ mới, mức cắt giảm thuế thậm chí là loại bỏ thuế trên nhiều hàng hóa và dịch vụ đã tác động tạo lập thương mại ngày càng mạnh mẽ, cũng có nghĩa cơ hội đặt ra nhiều đi liền với thách thức trong quá trình cơ cấu lại, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tác động thúc đẩy Tác động thúc đẩy đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Trần Thị Trang và Đỗ Thị Mai Thanh (2018).
Điều này được thể hiện ở những tác động đối với các hàng rào phía sau biên giới. Nghĩa là các tác động hướng đến thể chế, cơ chế chính sách hay hệ thống pháp lý. Các tác động thúc đẩy chủ yếu nhất của FTA gồm: Tăng năng suất trên cơ sở khai thác tính kinh tế của quy mô; cạnh tranh, chuyên môn hóa sản xuất và tính hiệu quả; thúc đẩy đầu tư; thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và phát triển bền vững; tạo ra cơ hội hài hòa hóa các chính sách kinh tế vĩ mô; tạo sức ép cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp lý. Cụ thể, tác động thúc đẩy của FTA thể hiện ở 3 dạng: mở rộng thị trường; thúc đẩy cạnh tranh và thu hút đầu tư.
Tác động thúc đẩy đến từ việc mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Do được hưởng các ưu đãi và xóa bỏ các rào cản thuế nên xét về nguyên tắc, các thành viên FTA được hưởng lợi từ sự gia tăng quy mô thị trường. Cũng có nghĩa nhu cầu và tính đa dạng thị trường tăng lên, mở ra các cơ hội với nhà sản xuất theo phương thức xây dựng và phát triển các doanh nghiệp, đồng thời xét từ góc độ quản lý nhà nước, các quốc gia cũng phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển các doanh nghiệp. Đi liền với mở rộng thị trường là sự gia tăng cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.
Cạnh tranh được coi là động lực phát triển và đó cũng là tác động lớn nhất của FTA. Tham gia FTA đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong các quốc gia thành viên không còn nhận được sự bảo hộ từ các công cụ chính sách thương mại của Nhà nước, không còn khái niệm “sân nhà”. Thách thức đối với những quốc gia này đó chính là áp lực cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ, dịch vụ chất lượng tốt từ các nước thành viên FTA trên chính thị trường nội địa. Các tác động mang tính thúc đẩy tạo ra sức ép để các nhà sản xuất trong nước phải vận động vươn lên, nắm lấy cơ hội đổi mới 13 hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, hạ giá thành sản phẩm.
Cơ sở thực tiễn về tác động của CPTPP và EVFTA tới xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 1. Tổng quan về CPTPP và các cam kết điều chỉnh hàng dệt may a. Tổng quan về CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là CPTPP), là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Austrailia, Brunei, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. CPTPP có xuất phát điểm là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với sự tham gia của Mỹ.
Tuy nhiên, sau khi Mỹ chính thức rút khỏi TPP, các nước thành viên còn lại đã tiếp tục thúc đẩy và đạt được thỏa thuận về tên gọi mới của Hiệp định TPP là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Theo các chuyên gia về Kinh tế, CPTPP bổ sung thêm 2 từ “Toàn diện” (Comprehensive) và “Tiến bộ (Progressive) không đơn thuần chỉ là sự thay đổi về tên gọi, mà còn là sự thống nhất tuyệt đối của các thành viên về nhu cầu duy trì 1 hiệp định có tính tiêu chuẩn cao và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. CPTPP được chính thức ký kết vào tháng 3/2018 bởi 11 nước thành viên còn lại của TPP (không bao gồm Hoa Kỳ). Hiện nay, CPTPP đã có hiệu lực với các quốc gia là Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand, Singapore vào tháng 12/2018, đối với Việt Nam, hiệp định có hiệu lực vào ngày 14/1/2019 và Peru vào tháng 9 năm 2021, thêm vào đó Malaysia chính thức thông qua hiệp định và có hiệu lực vào tháng 10 năm 2022.
Hiện nay chỉ còn 2 quốc gia chưa phê chuẩn Hiệp định là Brunei và Chile. Hiệp định CPTPP gồm 07 điều và 01 Phụ lục quy định về mối quan hệ với Hiệp định TPP giữa 11 nước. Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP (gồm 30 Chương và 9 Phụ lục) nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ để đảm bảo sự cân bằng về quyền lợi của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP. 20 nhóm nghĩa vụ tạm hoãn này bao gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương mua 14 sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 Chương là Quản lý hải quan và tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng.