Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở luận về tác động của tham gia hiệp định thương mại tự do tới xuất khẩu của doanh nghiệp Chương 3: Cơ hội và thách đối với xuất khẩu sản phẩm mây tre đan sang EU của Công ty CP XNK thủ công mỹ nghệ Artexport trong bối cảnh thực hiện hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm phát triển hoạt động xuất khẩu sản phẩm mây tre đan sang EU của Công ty CP XNK thủ công mỹ nghệ Artexport trong bối cảnh thực hiện hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THAM GIA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO TỚI XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 2. Tổng quan về xuất khẩu của doanh nghiệp 2. Khái niệm xuất khẩu Theo quan điểm của Đinh Thị Liên và các cộng sự (2011) trong Giáo trình Thương mại quốc tế, “Hoạt động thương mại hàng hóa là lĩnh vực hoạt động xuất hiện đầu tiên trong thương mại quốc tế, phát triển không ngừng và vẫn là hình thức hoạt động phổ biến và quan trọng nhất hiện nay”. Feenstra và Taylor (2010) lại đưa ra một định nghĩa khác về xuất khẩu trong giáo trình Thương mại quốc tế đó là: “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Theo Điều 18, Khoản 1, Luật thương mại 2005 của Việt Nam, “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt 15 nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Có thể định nghĩa khái niệm xuất khẩu như sau: xuất khẩu là việc một quốc gia bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ của một trong hai quốc gia đó hoặc của quốc gia thứ ba làm phương thức thanh toán. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Như vậy, xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Cơ sở của xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa (bao gồm hàng hóa vô hình và hữu hình) trong nước. Cho tới khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc giữa thị trường nội địa và khu chế xuất.
Các hình thức xuất khẩu * Xuất khẩu trực tiếp 9 Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của các công ty cho các khách hàng của mình ở nước ngoài Xuất khẩu trực tiếp được tiến hành khá đơn giản. Hoạt động xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu độc lập của một doanh nghiệp xuất khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp của Nhà nước cũng như quốc tế. Trong hoạt động xuất khẩu tự doanh, doanh nghiệp hoàn toàn nắm quyền chủ động và phải tự tiến hành các nghiệp vụ của hoạt động xuất khẩu từ nghiên cứu thị trường, lựa chọn bạn hàng, lựa chọn phương thức giao dịch, đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng. Doanh nghiệp phải tử bỏ vốn để chi trả các chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh và được hưởng toàn bộ phần lãi thu được cũng như phải tự chịu trách nhiệm nếu hoạt động đó thua lỗ.
Khi xuất khẩu tự doanh thì doanh nghiệp được trích kim ngạch xuất khẩu, khi tiêu thụ hàng xuất khẩu doanh nghiệp phải chịu thuế doanh thu, thuế lợi tức. Thông thường, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng xuất khẩu với nước ngoài. * Xuất khẩu ủy thác Hoạt động xuất khẩu ủy thác là hoạt động xuất khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số mặt hàng xuất khẩu nhưng không đủ điều kiện về khả năng tài chính, về đối tác kinh doanh… nên đã ủy thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành xuất khẩu hàng hóa theo yêu cầu của mình. Bên nhận ủy thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục xuất khẩu theo yêu cầu của bên ủy thác và được hưởng một khoản hoa hồng gọi là phí ủy thác.
Quan hệ giữa doanh nghiệp ủy thác và doanh nghiệp nhận ủy thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng ủy thác. Trong hoạt động xuất khẩu ủy thác, doanh nghiệp xuất khẩu không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng của họ mà chỉ đứng ra đại diện cho bên ủy thác để giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục xuất khẩu hàng cũng như thay mặt cho bên ủy thác khiếu nại đòi bồi thường với nước ngoài khi có tổn thất. 10 Khi nhận ủy thác, các doanh nghiệp xuất khẩu này (nhận ủy thác) phải lập hai hợp đồng: một hợp đồng mua bán hàng hóa với nước ngoài. Một hợp đồng nhận ủy thác với bên ủy thác.
* Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu hay mậu dịch đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng hóa nhập về. * Xuất khẩu tại chỗ Trong trường hợp hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt qua biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó cũng tương tự như hoạt động xuất khẩu thì được coi là xuất khẩu tại chỗ. Xuất khẩu tại chỗ là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người, doanh nghiệp hay tổ chức quốc tế khi những tổ chức, con người đó có mặt tại nước xuất khẩu, nhưng có thể giảm bớt chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất và vận chuyển như: bao bì, chi phí vận tải, bảo hiểm, thu hồi vốn nhanh trong khi vẫn thu được lại ngoại tệ. Hình thức xuất khẩu tại chỗ thì hàng hóa xuất khẩu sẽ bao gồm những mặt hàng sau: − Sản phẩm gia công; máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn; nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm thuộc hợp động gia công quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 187/2013/NĐ-CP; − Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan; − Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhận nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam.
Như vậy, hàng hóa được xuất khẩu tại chỗ sẽ không được vận chuyển vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ Việt Nam, mà khách hàng nước ngoài vẫn mua và sử dụng được hàng hóa của mình. * Gia công quốc tế 11 Gia công quốc tế là hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân công lao động quốc tế và do sự khác biệt và điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia. Nó được phân chia thành hai loại hình chủ yếu tùy theo vai trò của bên đặt hàng và 12 bên nhận gia công. Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường vào vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài.
Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình. Hoạt động gia công mang tính chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công lại rất ngắn, đầu vào và đầu ra của nó gắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi là một bộ phận của hoạt động ngoại thương * Tạm nhập tái xuất Tạm nhập có thể hiểu nghĩa đơn thuần là việc nhập khẩu hàng hóa trong một thời gian ngắn hạn (“tạm”) vào lãnh thổ Việt Nam. Thông thường, hàng hóa sau khi được nhập khẩu vào một quốc gia sẽ được lưu lại tại quốc gia đó để phân phối ra thị trường hoặc phục vụ cho một mục đích nhất định của doanh nghiệp, phục vụ cho sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ của quốc gia nhập khẩu đó. Tuy nhiên, với trường hợp tạm nhập hàng hóa thì hàng hóa nhập khẩu không nhằm mục đích cho lưu thông tại thị trường Việt Nam mà sau một thời gian ngắn tiếp theo sẽ được xuất khẩu sang một thị trường khác.
Tái xuất là bước tiếp theo sau của tạm nhập. Sau khi hàng hóa đã được hoàn thiện thủ tục thông quan, nhập khẩu vào một quốc gia nhập khẩu, hàng hóa đó sẽ được xuất khẩu sang một quốc gia khác. Bản chất, hàng hóa này được xuất khẩu hai lần, xuất khẩu từ nước đầu tiên để “tạm nhập” rồi sau đó lại xuất sang nước nhập khẩu cuối cùng. Vai trò của xuất khẩu Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển. Để thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì trước mắt chúng ta phải nhập khẩu một số lượng lớn máy móc thiết bị hiện 12 đại từ bên ngoài, nhằm trang bị cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhập khẩu thường được hình thành từ các nguồn chủ yếu là: xuất khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài, đi vay, viện trợ, thu hút từ hoạt động du lịch, dịch vụ, xuất khẩu lao động. Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả, còn viện trợ và đầu tư nước ngoài thì có hạn, hơn nữa các nguồn này thường bị phụ thuộc vào nước ngoài.
Do đó, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước chính là xuất khẩu. Thực tế là nước nào gia tăng được xuất khẩu thì nhập khẩu theo đó sẽ tăng theo.