CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việc đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do đa tầng nấc đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam trong các năm gần đây. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do mang lại không gian phát triển mới giữa các quốc gia thành viên giúp thúc đẩy đa dạng hoá, hợp lý hoá và hiện đại hoá cơ cấu xuất nhập khẩu, cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng. Thông qua hiệp định thương mại tự do, không gian sản xuất và thị trường tiêu thụ được mở rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội khu vực của hiệp định mà không gian còn được mở rộng đến các đối tác của các quốc gia là thành viên của hiệp định thương mại tự do.
Bên cạnh đó, thương mại thế giới ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng, gắn chặt với quá trình hợp tác, liên kết sản xuất. Nền sản xuất thế giới hình thành nên các chuỗi cung ứng và các quốc gia, các doanh nghiệp tùy theo điều kiện và năng lực của mình để có thể tham gia các phân đoạn trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu. Tính đến hết tháng 8/2023, Việt Nam đã ký kết và đàm phán 19 FTA, trong đó 16 FTA đã có hiệu lực và 3 FTA đang được đàm phán. Việc tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do này đã đem lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội trong việc phát triển nền kinh tế, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước và thu hút đầu từ nước ngoài.
Trên tinh thần đề cao vai trò của của hội nhập kinh tế quốc tế quốc tế và khu vực, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế trên toàn thế giới, Việt Nam đã tham gia nhiều các hiệp định thương mại (FTA) bao gồm cả FTA song phương và đa phương. Các nhà kinh tế và hoạch định chính sách đều khẳng định về vai trò của các FTA đối với kinh tế, chính trị, xã hội. Ví dụ, ông Lương Hoàng Thái, Vụ Trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), “hiệp định EVFTA dự kiến sẽ góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18% đến 3,25% (cho giai đoạn 5 năm đầu thực hiện), 4,57% - 5,30% (cho giai đoạn 5 năm tiếp theo) và 7,07% - 7,72% (cho giai đoạn 5 năm sau đó). Về xuất khẩu, EVFTA dự kiến giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định”.
Ngành dệt may của Việt Nam là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực và giữ vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Dệt may là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU. Trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU luôn đứng thứ ba, chỉ sau mặt hàng Da giày và Máy vi tính. Năm 2019, kim ngạch Trang 3/84 xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đạt 4,26 tỷ USD.
Do đó, khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực thực thi, dệt may được đánh giá là ngành có khả năng tận dụng và hưởng lợi lớn từ Hiệp định này khi cam kết mở cửa thị trường của EU dành cho hàng dệt may Việt Nam trong Hiệp định EVFTA lên tới 100% với lộ trình cắt giảm tối đa là 7 năm. − Năm 2019, trước khi hiệp định EVFTA có hiệu lực, ngành dệt may của Việt Nam có mức tăng trưởng khá ước tính khoảng 7,55% so với 2018. Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 8,9% so với năm 2018 và chiếm tỷ trọng 38,97% tổng kim ngạch xuất khẩu; EU đạt 4,4 tỷ USD tăng 2,23%, chiếm 11,28%; Trung Quốc đạt 4,25 tỷ USD tăng 7,05%, chiếm 10,9%; Nhật Bản đạt 4,2 tỷ USD, tăng 4,79%, chiếm 10,77%; Hàn Quốc đạt 4 tỷ USD tăng 4,42% chiếm 10,26%; ASEAN đạt 2,1 tỷ USD, tăng 7,75 tỷ USD, chiếm 5,38%. Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ Công Thương, thông thường quý IV của năm 2018, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu dệt may đã có đơn hàng cho cả năm sau đó nhưng năm 2019, đơn hàng dè dặt hơn.
Lượng đơn hàng của nhiều doanh nghiệp mới chỉ bằng 80% so với cùng kỳ. Không chỉ vậy, nhiều doanh nghiệp không nhận được đơn hàng dài hạn, mà thay vào đó là các đơn hàng ngắn hạn theo tháng, dài nhất là theo quý. Điều này cho thấy, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn như cạnh tranh từ các cường quốc dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh. đang rất khốc liệt.
Thị trường sợi cũng gặp nhiều khó khăn, sự cạnh tranh về đơn hàng từ các doanh nghiệp sợi có vốn đầu tư nước ngoài cũng như cạnh tranh từ các quốc gia khác như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Pakistan ngày càng gay gắt. Mặc dù chịu tác động rất lớn từ suy giảm kinh tế thế giới do biến động chính trị và xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn, đặc biệt là xung đột thương mại Mỹ - Trung, nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn giữ được mức tăng trưởng khá. Tuy kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2019 không đạt 40 tỷ USD như kỳ vọng đầu năm, ngành vẫn có mức tăng trưởng ước khoảng 7,55% so với năm 2018, với kim ngạch xuất khẩu dự kiến là 39 tỷ USD (thấp hơn 1 tỷ USD so với mục tiêu đầu năm). − Năm 2020 ngành dệt may và giày dép - túi xách là những ngành chịu tác động sớm nhất và kéo dài nhất của đại dịch COVID-19.
Hầu hết các báo cáo ngành Trang 4/84 của khu vực và thế giới đều cho thấy nhu cầu tiêu thụ hàng may mặc và giày dép giảm chưa từng có trong năm 2020. Theo ước tính vào quý III/2020 của PWC và Wazir Advisors, trong năm 2020, nhu cầu hàng may mặc của EU và Hoa Kỳ giảm lần lượt là 45% và 40% và giày dép giảm 27% và 21%. Đỗ Quỳnh Chi cho biết, dịch COVID-19 cũng tác động mạnh tới DN dệt may và giày dép Việt Nam khi có tới 94,2% DN da giày, 87,1% DN dệt may bị giảm đơn hàng; 84,5% DN da giày, 53,5% DN dệt may bị khách hoãn hủy đơn; 74,8 DN da giày, 22,9% DN dệt may không xuất khẩu được. Đối mặt với cơn sóng dữ COVID-19 thì ngành dệt may của Việt Nam cũng có nhiều cơ hội, hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là mặt hàng khó may, có giá trị cao, nhờ vậy mà vẫn giữ giá và mở rộng thị phần tại thị trường Hoa Kỳ.
Vào tháng 6/2020, Việt Nam đã trở thành nhà xuất khẩu lớn nhất hàng may mặc vào Hoa Kỳ, vị trí mà Trung Quốc chiếm giữ nhiều năm nay. Ở thị trường Châu Âu , Việt Nam mới chỉ chiếm 3% thị phần. Với hiệp định EVFTA có hiệu lực ngày 1/8/2020, dự báo xuất khẩu giày sẽ tăng 50% và dệt may tăng 67% vào 2025. Các DN đã bắt đầu một số điều chỉnh mang tính chiến lược trong thời gian 1-3 năm tới.
Có tới 55,7% DN dự định thúc đẩy tự động hóa, 49,8% sẽ phát triển sản phẩm mới, 39,9% sẽ đa dạng hơn nữa sản phẩm và 41,5% sẽ đầu tư nâng cao kĩ năng lao động. − Năm 2021, xuất khẩu dệt may ghi nhận tín hiệu khởi sắc khá rõ nét, thoát khỏi “bóng đen” liên tục sụt giảm trong năm 2020. Không chỉ đứng trong TOP đầu kim ngạch xuất khẩu với 40,4 tỷ USD năm 2021, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dệt may còn là ngành xuất siêu lớn của Việt Nam, với 16,2 tỷ USD năm 2021. Ngoài ra, sự tham gia của các doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành dệt may cũng rất lớn.
Tỷ trọng xuất khẩu dệt may của các doanh FDI trong ngành dệt may rất lớn, chiếm 60%. Đến hết năm 2021 đã có 32,9 tỷ USD vốn FDI đổ vào dệt may. theo đánh giá của Bộ Công Thương, tác động của EVFTA đối với hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam ở thời điểm hiện tại là chưa nhiều. Phân tích từ chuyên san EVFTA của Bộ Công Thương cho thấy, Hiệp định EVFTA có hiệu quả với hàng may mặt về lâu dài, bởi quá trình giảm thuế diễn ra theo lộ trình từ 5-7 năm.
Trong những năm đầu tiên EVFTA có hiệu lực, thuế suất thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng vẫn còn cao hơn so với thuế suất GSP (ưu đãi thuế quan phổ cập) 9,6% đang được Trang 5/84 hưởng. 100% các mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực. Để được hưởng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA, hàng dệt may Việt Nam phải đáp ứng các quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa theo hiệp định này và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu EUR. Theo thống kê của Cục Xuất nhập khẩu, tính từ ngày 1/8/2020 đến ngày 31/12/2020, kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU cấp C/O mẫu EUR.1 theo Hiệp định EVFTA đạt 216 triệu USD, con số này đã có sự gia tăng so với năm 2020 tuy nhiên chưa đạt mức kỳ vọng bởi lộ trình cắt giảm thuế mà EU dành cho hàng dệt may Việt Nam tối đa là 7 năm.
Trong năm đầu khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, một số mặt hàng dệt may có lộ trình cắt giảm thuế dài sẽ có thuế suất cao hơn so với thuế suất tương ứng đang được áp dụng trong GSP do đó, nhiều doanh nghiệp vẫn sẽ tiếp tục lựa chọn cơ chế GSP thay vì EVFTA khi xuất khẩu hàng dệt may sang EU. “Như vậy, trong ngắn hạn, việc đáp ứng quy tắc xuất xứ cho hàng dệt may xuất khẩu sang EU để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định EVFTA sẽ vẫn còn là hạn chế đối với ngành dệt may Việt Nam. Trong dài hạn, khi mức thuế suất hàng dệt may tiếp tục được cắt giảm sâu, tạo động lực cho ngành cũng như việc hình thành các chuỗi sản xuất khép kín từ nguyên liệu thô đến thành phẩm hoàn thiện cuối cùng, sẽ giúp ngành dệt may Việt Nam tận dụng hiệu quả hơn nữa các ưu đãi từ Hiệp định EVFTA mang lại”, đại diện Cục Xuất nhập khẩu chia sẻ. − Năm 2022, ngành dệt may chịu nhiều áp lực lớn.