Chương I: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu. Chương II: Cơ sở lý luận xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu. Chương III: Phân tích thực trạng xuất khẩu mặt hàng máy xây dựng sang thị trường Nam Mỹ 7 Chương IV: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng máy xây dựng sang thị trường Nam Mỹ 8 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN XUẤT KHẨU VÀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU 2. Lý thuyết chung về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp 2.
Khái niệm xuất khẩu Đã có nhiều quan điểm, khái niệm về hoạt động xuất khẩu được đưa ra, tuy nhiên theo quy định tại Luật thương mại 2005 tại Điều 28, Khoản 1 thì xuất khẩu được định nghĩa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc đưa hàng hoá ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo Tổng cục thống kê Việt Nam tại Niên giám thống kê 2015 có đưa ra khái niệm xuất khẩu dựa theo luật Thương Mại nhưng mang tính chi tiết hơn về xuất xứ: “Xuất khẩu hàng hóa là đưa toàn bộ giá trị hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong một thời kì nhất định, hàng hóa xuất khẩu là hàng hóa có xuất xứ trong nước và hàng tái sản xuất được đưa ra nước nước ngoài làm giảm nguồn vật chất trong nước”. Theo Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Lương Phan Hà (2021) có tổng hợp lại khái niệm xuất khẩu là việc bán hàng hóa ra khỏi lãnh thổ một quốc gia hoặc đưa vào khu vực Hải quan riêng nhằm mục đích thu được lợi nhuận. Như vậy theo các khái niệm trên có thể tổng kết lại xuất khẩu là việc đưa hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác, hay đưa vào khu vực đặc biệt trong lãnh thổ Việt Nam nhằm mục đích thu về ngoại tệ. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu của một quốc gia bị ảnh hưởng bởi các yếu tố rất đa dạng và phức tạp.
Nhưng yếu tố ấy có thể tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, song cũng có thể là các rào cản tạo ra những khó khăn, kìm hãm sự phát triển của hoạt động xuất khẩu. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu bao gồm: 2. Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh 9 Kinh tế thế giới đang bị ảnh hưởng lớn bởi xu thế tự do hóa thương mại – Khu vực hóa và toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa là một quá trình hội nhập toàn cầu và khu vực về thương mại,, đầu tư, dịch vụ và hợp tác khoa học công nghệ.
Đó là sự đan xem, kết hợp các chính sách kinh tế của mỗi quốc gia với khu vực và toàn thế giới. Các nước tham gia vào một hoặc hai quá trình này đều phải thực hiện Tự do hóa Thương mại và đầu tư. Tự do hóa Thương mại là những thay đổi về chính sách trong buôn bán để dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, hạn chế và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan để hàng hóa tự do lưu thông giữa các nước. Nhận thức đầy đủ, đúng đắn xu hướng này, Nhà nước ta cũng đã thực hiện những công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế từ năm 1968.
Điều này có thể thấy rõ trong sự phát triển tư duy về hội nhập qua các kỳ Đại hội của Đảng. Một số nhà báo đã tổng hợp và đăng trên Tạp chí Cộng sản về những nhận thức này từ các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc: Đại hội VI (năm 1986): Mở rộng hợp tác Đại hội VII (năm 1991): Đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Đại hội VIII (năm 1995): Hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội IX (năm 2001): Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội X (năm 2006): Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Đại hội XI (năm 2011): Chủ đọng và tích cực hội nhập quốc tế Đại hội XII (năm 2016): Chủ động, tích cực và thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới Đại hội XIII (năm 2021): Chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế 10 Với những chủ trương như vậy, Việt Nam cũng tạo ra được những thay đổi tích cực và con số ấn tượng trong lĩnh vực thương mại quốc tế trong suốt 35 năm đổi mới. Vì vậy có thể khẳng định rằng: Đây thực sự là nhân tố quan trọng trong thúc đẩy phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác Kinh tế - Thương mại giữa các nước nói chung và tăng cường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam nói riêng. Các nhân tố kinh tế, tài chính • Các nhân tố kinh tế xã hội Bao gồm nhiều chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách thúc đẩy xuất khẩu, cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái… Hiện nay Nhà nước ta đang chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế, tự do buôn bán xuất nhập khẩu trong phạm vi pháp luật cho phép.
Trong hoạt động kinh doanh quốc tế việc cạnh tranh là vấn đề sống còn, chính yếu tố này đã buộc các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải nhạy bén linh hoạt với thị trường, tạo được sự hấp dẫn đối với các mặt hàng của mình bằng nhiều hình thức thuyết phục • Hệ thống tài chính ngân hàng Hệ thống tài chính ngân hàng có thể chi phối rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu thông qua lãi suất cho vay, các dịch vụ thanh toán,. Lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh máy móc cũng phụ thuộc rất nhiều vào các ngân hàng do hầu hết các hoạt động thanh toán với đối tác đều được thực hiện qua ngân hàng. • Cán cân thanh toán và chính sách tài chính Nhân tố này quyết định phương án kinh doanh, mặt hàng và quy mô của doanh nghiệp xuất khẩu. Sự thay đổi của những nhân tố này sẽ gây xáo trộn lớn trong tỷ trọng xuất khẩu, cụ thể là các mặt hàng máy móc.
Khi chính phủ áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt thì hoạt động xuất khẩu máy móc có lợi vì tạo cơ hội thu về lượng ngoại tệ lớn, còn hoạt động nhập khẩu lại rơi vào thế bất lợi. Cán cân thanh toán thay đổi cũng 11 làm cho cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp phải thay đổi do sức ép của Chính phủ đòi cải thiện cán cân thanh toán trong từng thời kỳ. Các nhân tố về quản lý nhà nước Mặc dù thương mại quốc tế đem lại nhiều lợi ích to lớn nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên hầu hết các Chính phủ đều đưa ra những chính sách thương mại quốc tế riêng để thu lại được lợi ích quốc gia. Những công cụ chủ yếu mà các chính phủ thường dùng để quản lý hoạt động xuất khẩu là: Thuế quan: Thuế xuất khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu.
Việc đánh thuế xuất khẩu làm tăng tương đối mức giá của hàng hóa xuất khẩu với mức giá quốc tế do đó đem lại nhiều bất lợi cho các nhà sản xuất kinh doanh trong nước. Mục đích chủ yếu của việc đánh thuế xuất khẩu là nhằm điều tiết lượng hàng hóa xuất khẩu và hạn chế xuất khẩu những mặt hàng mà Nhà nước không khuyến khích. Hạn ngạch xuất khẩu (Quota): Hình thức này được áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan. Hạn ngạch được hiểu như quy định của nhà nước về số lượng nhất định của một mặt hàng được phép xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị trường, trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép.
Mục đích của Chính phủ khi sử dụng công cụ hạn ngạch xuất khẩu là nhằm quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả và điều chỉnh hàng hóa xuất khẩu. Hơn nữa là có thể bảo hộ nền sản xuất cửa cuốn trong nước nói riêng và các hàng hóa khác nói chung. Các nhân tố về địa lý, vận chuyển Yếu tố về địa lý ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động giao thương quốc tế. Đối với những nơi có giao thông đường biển, đường hàng không phát triển mạnh, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, đặc biệt đối với những loại hàng hóa cần điều kiện bảo quản khắt khe như nông sản, cá, hoặc những mặt hàng có kích thước, khối lượng lớn như máy móc, thiết bị.
Ngược lại, đối với những khu vực xa, địa hình hiểm trở, 12 việc đưa một hàng hóa vào thị trường đó gặp nhiều khó khăn. Bởi yếu tố về vận chuyển sẽ kéo theo hàng loạt những ảnh hưởng lên yếu tố khác như về giá cả, bảo hiểm, điều kiện hàng hóa,… 2. Các nhân tố khác Về nhân tố con người: Trong bất cứ hoạt động nào của doanh nghiệp thì con người đều chiếm vị trí quan trọng, vị trí trung tâm nhất. Tham gia trong lĩnh vực kinh doanh máy móc gồm có những bộ phận lao động làm việc ở những vị trí khác nhau.
Với việc sở hữu một lực lượng lao động lành nghề, nhiệt tình hăng say với công việc, điều đó hứu hẹn một sự thành công trong tương lai của doanh nghiệp. Nhân tố giá cả: Vấn đề về giá cả hàng hòa trong cơ chế thị trường là rất phức tạp vì mỗi thị trường có một loại giá khác nhau. Do giá cả thị trường bấp bênh không ổn định nên các doanh nghiệp kinh doanh cần phải lựa chọn mức giá phù hợp. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 2.
Đối với nền kinh tế Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Xuất khẩu nói chung và xuất khẩu máy xây dựng nói riêng có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế. Thứ nhất, Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu: để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cần phải có một nguồn vốn lớn để nhân khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại. Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu từ các nguồn xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay vốn, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, các dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động.
trong đó xuất khẩu là nguồn vốn chủ yếu để nhập khẩu. Thứ hai, góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển. Xuất khẩu không chỉ tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh 13 doanh ở những ngành liên quan khác.