mở đầu cho nhóm này trong các nghiên cứu đường cong J (ở cấp độ ngành). Các tác giả khẳng định rằng “chúng tôi đề xuất phân tách dữ liệu thương mại bằng cách sử dụng nhập khẩu và xuất khẩu ở cấp độ hàng hóa”. 11 Tóm lại, hiệu ứng đường cong J như là một lý thuyết quan trọng trong việc giải thích các vấn đề tạm thời gây ra trong cán cân thương mại phát sinh từ sự giảm giá đồng tiền. Từ các lý thuyết có thể nhận thấy rằng ý nghĩa đằng sau đường cong J là trong ngắn hạn (tạm thời) sự mất giá của đồng nội tệ sẽ trực tiếp ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại của quốc gia.
Trong dài hạn, cán cân thương mại mới dần được cải thiện. Cụ thể, các lý luận kinh tế cho rằng khi có sự phá giá tiền tệ, giá hàng hóa xuất khẩu sẽ giảm, trong khi đó, giá hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng, dẫn đến việc quốc gia sẽ tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cán cân thương mại được cải thiện. Tuy nhiên, trong thực tế, việc hạn chế nhập khẩu hàng hóa nước ngoài không diễn ra ngay lập tức, lý do là trong khoảng thời gian ngắn người dân không thể điều chỉnh sở thích và cũng chưa thể tìm ra sản phẩm thay thế sản xuất trong nước. Tương tự vậy, xuất khẩu cũng khẩu thể tăng quá nhiều trong ngắn hạn là vì hoạt động sản xuất cần nhiều nguồn lực để tăng trưởng.
Các yếu tố về con người, tư liệu sản xuất không thể một sớm một chiều được cải thiện, tăng cường để tạo ra nhiều hàng hóa hơn để phục vụ hoạt động xuất khẩu. Sự mất giá đồng nội tệ sẽ làm trầm trọng thêm cán cân thương mại của một nền kinh tế trong ngắn hạn nhưng hậu quả sẽ cải thiện nếu cả hai nhu cầu nhập khẩu và cung ứng xuất khẩu không co giãn nhiều hơn trong ngắn hạn so với dài hạn. Những thay đổi theo thời gian trong cán cân thương mại được trình bày trong hình 2. Một sự mất giá được giả định xảy ra tại thời điểm 0, và cán cân thương mại xấu đi ngay lập tức vì cá nhân tạm thời chi tiêu nhiều hơn vào nhập khẩu và cũng vì xuất khẩu không tăng đủ.
Nhưng sau một thời gian, khi độ co giãn của cả nhập khẩu và xuất khẩu tăng, cán cân thương mại cuối cùng được cải thiện. Điều này rõ ràng có thể được nhìn thấy trong hình và được thể hiện ở đường cong J. Điều kiện Marshall-Lerner (ML) Nguồn gốc của cách tiếp cận độ co giãn (elasticity approach) xuất phát từ điều kiện Marshall-Lerner (ML). Điều này được ghi nhận bởi Kulkarni và Clarke (2009) rằng “Alfred Marshall và Abba Lerner lập luận rằng tỷ giá hối đoái tăng có thể dẫn đến thặng dư B.T chỉ khi độ co giãn của cầu xuất khẩu từ phần còn lại của thế giới, và cầu nhập khẩu tương tự trong nước, đủ mạnh”.
Rincon và Nelson (2001) nói thêm rằng “kết quả cơ bản của cách tiếp cận độ co giãn là sự mất giá sẽ cải thiện cán cân thương mại nếu giá trị tuyệt đối của tổng co giãn cầu cho xuất khẩu và nhập khẩu vượt quá đơn vị. Nếu điều kiện này (Marshall-Lerner) hiện hữu, cung ngoại tệ dư thừa khi tỷ giá hối đoái nằm trên mức cân bằng và cầu dư thừa khi nó ở dưới”. Câu trả lời thông thường cho câu hỏi, ảnh hưởng của định giá thấp/phá giá tiền tệ lên cán cân thương mại của nước phá giá là gì, đi kèm các điều kiện cung và cầu ở quốc gia phá giá và phần còn lại của thế giới. Người ta tin rằng sự giảm giá có xu hướng giảm giá cả nước ngoài của hàng xuất khẩu tương ứng với sự giảm giá ban đầu.
Với mức giá giảm như vậy, cầu nước ngoài cho hàng xuất khẩu sẽ tăng lên, do đó làm tăng giá cả nước ngoài của các mặt hàng xuất khẩu, do đó, giá cả hàng xuất khẩu sẽ trở về mức giá trước khi giảm giá tiền tệ. Số ngoại tệ thu được từ 13 xuất khẩu sẽ thay đổi như thế nào còn phụ thuộc vào độ co giãn của cầu hàng hóa xuất khẩu của nước ngoài và độ co giãn của cung trong nước đối với hàng xuất khẩu. Mặt khác, tức là phía nhập khẩu, tác động của việc giảm giá là tăng giá hàng nhập khẩu trong nước ở giai đoạn đầu, có lẽ, dẫn đến giảm nhu cầu nhập khẩu của nước này, do đó làm giảm giá cả thế giới của hàng hóa nhập khẩu. Độ co giãn của cầu nội địa cho hàng nhập khẩu và độ co giãn của cung nước ngoài cho hàng nhập khẩu xác định kích cỡ của những phản ứng đối với hàng nhập khẩu (Alexander, 1952).
“Lý thuyết kinh tế truyền thống khẳng định rằng lợi ích từ sự giảm giá sẽ phụ thuộc vào độ co giãn xuất khẩu và nhập khẩu. Nếu tổng các độ co giãn lớn hơn một (đơn vị), được gọi là điều kiện Marshall-Lerner (ML), khi đó, cán cân thương mại được kỳ vọng cải thiện sau khi phá giá tiền tệ” (Halicioglu, 2007). Giải thích thêm cho điều kiện Marshall-Lerner (ML), Bahmani-Oskooee và cộng sự (2006) nhấn mạnh rằng: “Trong thiết lập cân bằng từng phần, tổng giá trị tuyệt đối của độ co giãn cầu nhập khẩu và xuất khẩu phải lớn hơn một để sự giảm giá cải thiện thành công cán cân thương mại. Trực giác chính đằng sau phương pháp độ co giãn bao gồm 2 phần.
Thứ nhất, sự giảm giá sẽ tạo động lực cho các nhà xuất khẩu ở chỗ họ kiếm được nhiều tiền hơn khi ngoại tệ kiếm được từ xuất khẩu được chuyển đổi sang nội tệ. Thứ hai, nhiều nội tệ hơn cho mỗi đơn vị ngoại tệ là cần thiết cho hàng nhập khẩu một khi đồng nội tệ bị định giá thấp. Như một kết quả ròng của sự khuyến khích trong xuất khẩu và không khuyến khích trong nhập khẩu, sự mất giá dự kiến sẽ cải thiện cán cân thương mại với giả định cả xuất khẩu và nhập khẩu đều được tính bằng ngoại tệ và trong nước đang trong trạng thái cân bằng trước khi phá giá”. Trình bày về mặt toán học của điều kiện Marshall-Lerner (ML) Trình bày toán học của điều kiện Marshall - Lerner dựa trên một số giả định cụ thể.
Chee-Wooi và Tze-Haw (2008) nhấn mạnh rằng theo điều kiện Marshall- Lerner (ML), cán cân thương mại có thể cải thiện sau khi giảm giá tiền tệ chỉ khi tổng độ co giãn cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn một. Theo Sasakura và Kulkarn, những giả định này bao gồm: 1. Không có tài khoản vốn trong cán cân thanh toán. Nếu không có tài khoản vốn, điều này giả định rằng không có dòng vốn vào hoặc ra khỏi nền kinh tế, do đó cán cân thanh toán tương đương với cán cân thương mại.
Độ co giãn của cung cho hàng nhập khẩu và độ co giãn của cung cho hàng xuất khẩu là vô hạn (infinite). Nói cách khác, không có ràng buộc cung (supply constraint). Điều này có nghĩa là có đủ nguồn cung cho bất kỳ số lượng hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu nào được yêu cầu. Cán cân thương mại tại thời điểm tăng tỷ giá là bằng không.
Nói cách khác, giả định rằng tài khoản vãng lai bắt đầu bằng số không (tại vị trí cân bằng) trước khi giảm giá tiền tệ. Theo Krugman và Obstfeld, “nếu tài khoản vãng lai ban đầu không bằng không thì điều kiện Marshall-Lerner trở nên phức tạp hơn nhiều” Cách giải thích toán của của điều kiệm ML sau đây dựa theo Salvatore (2001) Đặt PX và PM tương ứng là giá cả ngoại tệ cho hàng xuất khẩu và nhập khẩu QX và QM tương ứng là số lượng hàng xuất khẩu và nhập khẩu VX và VX tương ứng là giá trị ngoại tệ cho hàng xuất khẩu và nhập khẩu Khi đó, cán cân thương mại (B) được xác định như sau: B = V X - V X = Q X. PM Do đó: 15 ∂B = k[QX. PM] Nếu bắt đầu với: B = QX.
PX (nX + nM – 1)] Và ∂B > 0 nếu: nX + nM – 1 > 0 hoặc nX + nM > 1 Trong đó cả nX và nM đều dương. Nếu sự giảm giá (phá giá) diễn ra trong điều kiện VM > VX, nM nên nhận tỷ trọng tương ứng lớn hơn nX, và điều kiện ML cho thị trường ngoại hối ổn định trở nên dễ dàng thỏa mãn hơn: nX + (VM/VX) nM > 1 Nếu độ co giãn giá của cung nước ngoài đối với hàng nhập khẩu (eM) và cung hàng xuất khẩu của nó (eX) là hữu hạn, eM và eX càng nhỏ, thị trường ngoại hối càng ổn định, ngay cả khi: nX + nM < 1 Điều kiện ML cho sự ổn định thị trường ngoại hối khi eM và eX không vô hạn được cho bởi: eX. nM Nếu hướng của bất đẳng thức này đảo chiều, TOT (giá hàng xuất khẩu chia giá hàng nhập khẩu) của quốc gia phá giá tiền tệ được cải thiện. Nếu 2 vế bất đẳng thức bằng nhau, TOT không đổi.
Lý thuyết Marshall-Lerner được biết đến với sự đơn giản và hiệu quả của nó trong việc giải thích điều kiện cần thiết cho việc cải thiện cán cân thương mại do phá giá tiền tệ trong cách tiếp cận độ co giãn. Tuy nhiên, phiên bản phức tạp hơn 16 của phân tích dựa trên lý thuyết Marshall-Lerner xảy ra khi nó liên quan đến các giả định tiêu chuẩn cơ bản khác nhau, đó là điều kiện ban đầu: cân bằng thương mại (balanced trade) cùng độ co giãn cầu vô hạn của hàng hóa xuất nhập khẩu (Hermawan, 2011). Các bằng chứng thực nghiệm về hiện tượng đường cong J 2. Nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu tổng hợp Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về hiện tượng đường cong J là những nghiên cứu sử dụng phương pháp cân bằng thương mại tổng hợp và chúng dựa trên trường hợp hai quốc gia – chủ nhà và phần còn lại của thế giới (Halicioglu, 2007).
Giả thiết đường cong J đạt được sự thỏa đáng kể từ khi kết thúc Hệ thống Bretton Woods năm 1973 (Kulkarni và Clarke, 2009). Bahmani-Oskooee (1985) nhấn mạnh rằng “nhiều tác giả, như Cooper (1971), Connolly và Taylor (1972), Laffer (1974) và Salant (1974), nghiên cứu ảnh hưởng của sự mất giá lên cán cân thương mại và cán cân thanh toán, không ai trong số họ tính đến các biến khác ngoài tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến cán cân đó ”. Tác giả cũng nói thêm rằng năm 1973 là năm đầu tiên chuyển sang hệ thống tỷ giá thả nổi. Do đó, công trình của Magee (1973) được đánh giá là công trình đầu tiên trong các nghiên cứu kinh tế quốc tế kiểm định giả thuyết đường cong J.