phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Thái Lan. Trong chƣơng này, tác giả đề cập tới một số khái niệm và lý thuyết về thƣơng mại quốc tế cũng nhƣ phân tích tầm quan trọng của quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Thái Lan đối với hai nƣớc và khu vực; Tác giả phân tích, làm rõ các nhân tố tác động tới quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Thái Lan giai đoạn này ở các khía cạnh: thế giới, khu vực, quốc gia và pháp lý. Chƣơng 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam – Thái Lan giai đoạn 2007 – 2016. Tác giả tập trung phân tích thực trạng của quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Thái Lan trên các khía cạnh: Kim ngạch XNK và CCTM, cơ cấu hàng hóa và hình thức trao đổi thƣơng mại của hai bên.
Từ đó rút ra những thành tựu và hạn chế còn tồn tại trong quan hệ này, lí giải nguyên nhân để từ đó có cơ sở đƣa ra giải pháp ở phần sau. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Thái Lan Trên cơ sở những phân tích của chƣơng 1 và chƣơng 2, tác giả sẽ phân tích những triển vọng của quan hệ thƣơng mại hai nƣớc trong thời gian sắp tới. Đƣa ra định hƣớng phát triển quan hệ thƣơng mại của hai nƣớc. Từ đó, khuyến nghị một số giải pháp cho Chính phủ, doanh nghiệp để thúc đẩy hơn nữa quan hệ thƣơng mại ViệtNam – Thái Lan trong thời gian tới.
11 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM – THÁI LAN 1. Tầm quan trọng của quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam – Thái Lan 1. Một số khái niệm cơ bản Khái niệm về thương mại quốc tế Thƣơng mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nƣớc thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận.3Thƣơng mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nƣớc phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nƣớc. Ngày nay, thƣơng mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế.
Vì vậy, phải coi thƣơng mại quốc tế nhƣ một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nƣớc trên cơ sở lựa chọn một cách tối ƣu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. Thƣơng mại quốc tế một mặt phải khai thác đƣợc mọi lợi thế tuyệt đối của đất nƣớc phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế. Mặt khác, phải tính đến lợi thế tƣơng đối có thể đƣợc theo quy luật chi phí cơ hội. Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu đƣợc so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp.4 Vì vậy để phát triển thƣơng mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cƣờng khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn.
Thƣơng mại quốc tế cũng bao gồm thƣơng mại hàng hóa, thƣơng mại dịch vụ, thƣơng mại liên quan đến đầu tƣ và quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, đề tài xin tập trung chủ yếu vào thƣơng mại hàng hóa và đề cập một phần thƣơng mại dịch vụ (ngành bán lẻ). Thƣơng mại hàng hóa lại đƣợc chia thành thƣơng mại liên ngành và thƣơng mại nội ngành. Thƣơng mại liên ngành là sự trao đổi hàng hóa khác nhau thuộc các 3 Nguyễn Văn Tuấn, Trần Hòe (2008), Giáo trình thƣơng mại quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, tr.
16 4 Nguyễn Văn Tuấn, Trần Hòe (2008), Giáo trình thƣơng mại quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, tr. 16 12 z lĩnh vực hoặc ngành sản xuất khác nhau. Ngƣợc lại, “Thƣơng mại nội ngành đƣợc hiểu là mua bán hàng hóa trong cùng một ngành hàng hay cùng một ngành sản xuất”.5Ví dụ nhƣ Việt Nam XK gạo sang các nƣớc nhƣng đồng thời NK gạo từ Thái Lan và một số nƣớc khác. Tùy từng trƣờng hợp mà các mặt hàng XK và NK trong thƣơng mại nội ngành có thể là quan hệ cạnh tranh hoặc quan hệ bổ trợ lẫn nhau.6 Khi nói đến thƣơng mại quốc tế, chúng ta cần phải xem xét tới nguồn gốc và một số lý thuyết về thƣơng mại quốc tế.
Xuất phát từ đây chúng ta có thể thấy đƣợc các yếu tố tác động đến quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Thái Lan, lí giải đƣợc các hạn chế, nguyên nhân và tìm ra đƣợc những hƣớng đi mới cho hai quốc gia. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối do Adam Smith phát hiện: “Mỗi quốc gia chỉ nên sản xuất các mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, tức là sử dụng những lợi thế tuyệt đối đó họ có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí thấp hơn các nƣớc khác”.7 Nhƣ vậy, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối, sự khác biệt về lợi thế tuyệt đối giữa hai quốc gia là nguồn gốc của trao đổi thƣơng mại quốc tế. Mô hình thƣơng mại này có thể giúp giải thích đƣợc một phần của quan hệ thƣơng mại quốc tế, tuy nhiên vẫn chƣa giải thích đƣợc lý do của thƣơng mại quốc tế trong mọi trƣờng hợp. Lý thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tƣơng đối) của David Ricardo: nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các nƣớc khác trong việc sản xuất tất cả sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tạo ra lợi ích khi tham gia vào phân công lao động và thƣơng mại quốc tế.
Khi tham gia vào thƣơng mại quốc tế, nƣớc đó sẽ chuyên môn hóa sản xuất và XK sản phẩm mà chúng có lợi thế tƣơng đối và NK các sản phẩm không có lợi thế tƣơng đối. 8 Sang thế kỷ 20, vào những năm 1920 – 1930, lý thuyết của Ricardo đƣợc Eli Heckscher và Bertil Ohlin mở rộng và mô hình hóa. Hai ông cho rằng thƣơng mại quốc tế diễn ra trên cơ sở điều kiện khác biệt giữa các quốc gia về nhân tố sản xuất: 5 Nguyễn Văn Tuấn, Trần Hòe (2008), Giáo trình thƣơng mại quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, tr. 98 6 Nguyễn Thị Hồng Tâm (2016), Luận án Quan hệ hàng hóa giữa VN với một số nƣớc ASEAN phát triển, tr.
21 7 Nguyễn Xuân Thiêm (2011), Giáo trình thƣơng mại quốc tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 8 Nguyễn Xuân Thiêm (2011), Giáo trình thƣơng mại quốc tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 13 z Một số nƣớc dƣ thừa lao động nhƣng lại thiếu vốn, trong khi một số nƣớc khác lại nhiều vốn nhƣng thiếu lao động. Kết quả là các quốc gia sẽ chuyên môn hóa vào sản xuất và XK những mặt hàng mà nƣớc đó có lợi thế tƣơng đối và NK những mặt hàng kém lợi thế.
Tuy nhiên, mô hình cũngchƣa giải thích đƣợc nhiềuhiện tƣợng thƣơng mại trong thực tế. Cho đến Paul Krugman, ông đƣa ra“Lý thuyết thƣơng mại mới”: giải thích quan hệ thƣơng mại nội ngành dựa trên giả định về lợi thế nhờ quy mô, theo đó việc sản xuất trên quy mô lớn làm giảm chi phí sản xuất. Bên cạnh lợi thế quy mô sản xuất, lý thuyết Krugman còn dựa trên giả định ngƣời tiêu dùng quan tâm tới tính đa dạng sản phẩm.Do hai đặc tính này mà ngƣời sản xuất sẽ dần dần trở thành độc quyền đối với nhãn hiệu sản phẩm của mình, kể cả khi phải chịu sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu khác.Mô hình của Paul Krugman giải thích tại sao thƣơng mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa những nƣớc có lợi thế tƣơng đối về nhân tố sản xuất tƣơng tự nhau. 9 Từ đó gợi ý rằng các nƣớc có thể thu đƣợc lợi ích từ hoạt động thƣơng mại ngay cả khi không có sự khác biệt về sự sẵn có các nguồn lực sản xuất hay công nghệ.
Thƣơng mại cho phép một nƣớc chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm nhất định, đạt đƣợc lợi ích kinh tế nhờ quy mô và giảm chi phí sản xuất, đồng thời mua những sản phẩm mà trong nƣớc không sản xuất từ nƣớc vốn cũng chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm khác. Bằng cơ chế này, mức độ đa dạng của các sản phẩm dành cho ngƣời tiêu dùng sẽ tăng lên trong khi chi phí sản xuất trung bình cho những sản phẩm đó giảm xuống, kéo theo mức giá bán cũng giảm theo, từ đó giải phóng các nguồn lực để sản xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ khác. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thƣơng mại quốc tế Lợi thế so sánh của mỗi nước là một trong những nhân tố quyết định cơ cấu xuất NK. Các quốc gia sẽ XK những sản phẩm mà mình có lợi thế, và NK trở lại những hàng hóa mà trong nƣớc sản xuất không có hiệu quả.
Chính sách thương mại: là một hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nƣớc áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thƣơng mại trong và 9 http://baoquocte.vn/paul-krugman-ong-la-ai-4501.html 14 z ngoài nƣớc ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đã đề ra trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội.10Nhƣ vậy cơ cấu hàng xuất NK có thể bị ảnh hƣởng bởi chính sách thƣơng mại của Nhà nƣớc thông qua các công cụ thuế quan hoặc phi thuế quan. Nỗ lực của doanh nghiệp: Sự cố gắng của các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện quan hệ thƣơng mại hàng hóa song phƣơng. Các doanh nghiệp đầu tƣ vào trang thiết bị, dây chuyền công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng XK. Các chiến lƣợc của phát triển của doanh nghiệp, định hƣớng dài hạn của doanh nghiệp tác động trực tiếp tới cơ cấu mặt hàng chung của một nƣớc.
Điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước: bao gồm số lƣợng dân số, trình độ và truyền thống văn hóa, mức sống và thị hiếu của dân cƣ, thói quen tiêu dùng, nhu cầu thị trƣờng. Ví dụ mức sống, mức thu nhập ảnh hƣởng đến cơ cấu của hàng hóa XNK. Ở những nƣớc có mức thu nhập cao, ngƣời tiêu dùng sẽ có nhu cầu về hàng hóa cao cấp hơn, an toàn hơn cả trên thị trƣờng nội địa và XK. Ngƣợc lại, ở những nƣớc có mức sống thấp thì nhu cầu về hàng thiết yếu, cơ bản cao hơn, nhu cầu về hàng tiêu dùng cao cấp, xa xỉ sẽ ít hơn.
Vị trí địa lý: ảnh hƣởng lớn tới cơ cấu thƣơng mại.