CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ 1. Khái niệm bán phá giá Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm được coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu của nó thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự trong nước theo các điều kiện mua bán thông thường. Theo khái niệm như vậy thì có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của một nước đến một quốc gia nội địa nếu xét thấy: + Giá xuất khẩu thấp hơn giá bán hàng hoá đó ở thị trường nội địa + Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất + Giá xuất khẩu sang nước tiến hành điều tra chống bán phá giá thấp hơn giá xuất khẩu hàng hoá đó sang thị trường nước khác. Trong trường hợp hàng nhập khẩu từ một nước không có nền kinh tế thị trường, nước nhập khẩu có thể lấy mức giá của nước thứ ba để so sánh khi xác định xem có bán phá giá hay không.
Các quy định về chống bán phá giá của EU căn bản là giống như của WTO. EU quy định bên kiện phải là ngành công nghiệp hoặc một nhóm nhà sản xuất bị thiệt hại do hành vi bán phá giá, phải đưa ra đủ bằng chứng chứng minh tổng các thiệt hại này lớn hơn 25% giá trị của toàn ngành, và mức độ bán phá giá của hàng nhập khẩu của từng nước bị kiện phải lớn hơn 2% thị phần. Luật chống bán phá giá của Mỹ thì quy định hành vi phá giá là: + Bán một món hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn giá đang thịnh hành ở thị trường trong nước. Điều này được coi là sự kỳ thị giá cả trên thị trường quốc tế.
+ Bán một món hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn giá thành của chính nó, tức là hoàn toàn không có khả năng thu hồi chi phí sản xuất. Khoảng chênh lệch giữa hai mức giá được dùng để so sánh gọi là biên độ phá giá. Các nước được phép phạt đối với việc bán phá giá tương đương với biên độ phá 10 giá nếu xác định được thông qua quá trình thanh tra, việc bán phá giá làm tổn hại đến những nhà sản xuất nội địa cùng chủng loại sản phẩm đó. Thuế chống bán phá giá được áp dụng cho nhà sản xuất sản phẩm bán phá giá và căn cứ vào nguồn gốc xuất xứ sản phẩm chứ không áp dụng đối với nước thứ ba (trong trường hợp xuất khẩu qua trung gian một nước thứ ba).
Cơ sở kinh tế của việc bán phá giá Trước khi tìm hiểu về tình hình điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới thay đổi mạnh mẽ như thế nào trong gần một thập kỷ qua chúng ta cần nghiên cứu về cơ sở kinh tế của việc bán phá giá. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định khi nào thì hành vi bán phá giá là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khi nào thì hành vi đó là bình thường về mặt kinh tế. Tìm hiểu cơ sở kinh tế của việc bán phá giá cũng sẽ giúp ích trong việc phân tích ai là người có lợi, ai là người bị thiệt khi chấp nhận hay không chấp nhận hành vi đó. Càng ngày càng có nhiều người ủng hộ quan điểm cho rằng bán phá giá bao gồm cả tình huống giá xuất khẩu hàng hoá thấp hơn chi phí sản xuất.
Những người ủng hộ quan điểm bán phá giá là sự phân biệt giá thường lập luận rằng bán phá giá do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất cũng là một hình thức phân biệt giá. Họ cho rằng các công ty không thể duy trì việc bán hàng dưới chi phí nếu không bù lỗ cho phần hàng này bằng những phần hàng bán trên chi phí trong thị trường khác, tức là công ty đó đang thực hiện biện pháp phân biệt giá. Tuy nhiên, lập luận trên chưa giải thích được tại sao giá xuất khẩu dưới chi phí sản xuất lại bị coi là bán phá giá. Để tìm hiểu thêm về ý nghĩa kinh tế của hành vi này, ta sẽ xem xét khái niệm chi phí bằng cách phân biệt chi phí trung bình và chi phí biên.
Chi phí trung bình là chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm đầu ra. Chi phí biên là chi phí tăng lên do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đầu ra. Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi. Chính chi phí biên là yếu tố quyết định trong việc định giá của một công ty trong ngắn hạn khi phải chịu chi phí cố định 11 1.1 Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí trung bình Ta sẽ xem xét xem trong ngắn hạn công ty sẽ quyết định lựa chọn mức sản lượng sản xuất thế nào để tối đa hoá lợi nhuận.
Hình 1 MC: Đường chi phí biên AVC: Đường chi phí biến đổi trung bình MR: Đường thu nhập biên ATC: Đường chi phí trung bình Trong thời kỳ ngắn hạn, công ty tối đa hoá lợi nhuận của mình bằng cách lựa chọn đầu ra q* mà tại đó chi phí biên của công ty bằng với giá cả P của sản phẩm và bằng thu nhập biên MR. Lợi nhuận của công ty chính là hình chữ nhật ABCD. Mức sản lượng q1 thấp hơn q* hay mức sản lượng q2 cao hơn q* đều dẫn tới việc hạ thấp lợi nhuận. Vùng xám cho thấy mức giảm lợi nhuận tương ứng với việc lựa chọn sản lượng q1 và q2.
Các đường MR và MC cũng cắt nhau tại E, tương ứng với mức sản lượng q0. Tuy nhiên ở mức sản lượng q0 lợi nhuận chưa được tối đa hoá. Tăng sản lượng vượt quá q0 sẽ tăng được lợi nhuận vì chi phí biên vẫn thấp hơn thu nhập biên. Do đó điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của một công ty là thu nhập biên bằng chi phí biên ở điểm mà ở đó chi phí biên đang đi lên chứ không đi xuống.
12 Trong ngắn hạn, khi thị trường suy thoái bất cứ công ty nào dù là cạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn chi phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn giao điểm của chi phí biên và chi phí biến đổi trung bình. Hành vi này của nhà sản xuất chính là để bù đắp chi phí cố định. Nhà sản xuất có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy giảm tạm thời, thị trường sẽ hồi phục và công ty có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn giản là nhà sản xuất đang cố gắng bán hàng nhằm giảm thiểu thua lỗ trước khi rút khỏi thị trường. Mô hình dưới đây cho ta thấy rõ hơn hiện tượng này.
Hình 2 MC: Đường chi phí biên AVC: Đường chi phí biến đổi trung bình MR: Đường thu nhập biên ATC: Đường chi phí trung bình Trong thời gian ngắn công ty có thể chịu lỗ nếu nó vẫn tạo ra thu nhập đủ để bù đắp chi phí biến đổi. Với mức giá P thấp hơn ATC như hình vẽ, công ty vẫn tiếp tục tiến hành sản xuất mức sản lượng q*. Tại mức sản lượng này, công ty sẽ bị lỗ phần hình chữ nhật ABCD do giá bán thấp hơn chi phí sản xuất trung bình. Tuy nhiên công ty vẫn duy trì sản xuất vì nếu đóng cửa thì nó thậm chí còn phải chịu thua thiệt lớn hơn, biểu diễn bằng hình chữ nhật CBEF.
Sở dĩ như vậy vì số chênh lệch giữa chi phí trung bình ATC và chi phí biên đổi trung bình là chi phí cố định trung bình. Đoạn BE chính là biểu thị chi phí cố định trung bình tại mức sản lượng q* và hình chữ nhật CBEF biểu thị tổng chi phí cố định của sản xuất. Khi DN không sản xuất một đầu ra nào thì DN vẫn phải chịu mất phần chi phí cố định đã đầu tư CBEF. 13 Khi cả nhà sản xuất trong nước và nhà xuất khẩu đều bán phá giá dưới chi phí trung bình do suy thoái của thị trường thì việc đánh thuế chống bán phá giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý.
Trong trường hợp này, biện pháp chống bán phá giá chỉ mang tính bảo hộ đơn thuần nhằm làm giảm tác động bất lợi đối với công ty trong nước khi thị trường suy thoái. Cơ cấu chi phí sản xuất của công ty sẽ quyết định điểm hòa vốn (giao điểm G giữa đường MC và đường ATC) và điểm đóng cửa (giao điểm H giữa đường MC và đường AVC). Công ty nào có chi phí cố định lớn hơn sẽ chấp nhận bán ở mức giá thấp hơn nhằm cố gắng bù đắp chi phí cố định đã bỏ ra. Do đó, nhà xuất khẩu có thể bán ở mức giá mà các công ty trong nước đã đóng cửa, chỉ để bù đắp chi phí cố định đã bỏ ra.
Sự khác biệt về cơ cấu chi phí của các công ty trên thế giới có thể do nhiều nguyên nhân. Ví dụ như việc các công ty của Mỹ thường đầu tư lớn vào máy móc, thiết bị khiến cho tỷ lệ chi phí cố định của các công ty này trong tổng chi phí thường cao hơn các nhà cạnh tranh khác ở nước ngoài. Do đó, các công ty này sẽ dễ bị coi là bán phá giá trong thời gian cầu của thế giới giảm. Hay như ở Nhật Bản, do tiền lương công nhân thường được coi là chi phí cố định vì các công ty Nhật hiếm khi sa thải công nhân nên các công ty này có thể sẽ tiếp tục sản xuất và xuất khẩu sang Mỹ ở mức giá mà công ty Mỹ cho là quá thấp để duy trì hoạt động.
Nếu việc bán phá giá là do sự khác biệt về cơ cấu chi phí gây ra thì nước nhập khẩu có thể định hướng nhà sản xuất trong nước thay đổi cơ cấu chi phí, qua đó góp phần làm giảm gánh nặng thuế khoá cho người tiêu dùng do không phải chịu thuế chống bán phá giá.2 Mục tiêu bán phá giá Mục tiêu tối đa hoá doanh thu Như ta đã phân tích, để tối đa hóa lợi nhuận, công ty chỉ mở rộng sản xuất đến mức giá bằng chi phí biên (điểm A ở hình 1). Do đó, việc công ty cố gắng tối đa hóa sản lượng sẽ đẩy chi phí biên lên cao hơn giá bán. Nếu tình huống này xảy ra trong thị trường nội địa, chính phủ sẽ không can thiệp vì đây là vấn đề của bản thân công ty.