phần mở đầu của tuyên bố Marrakesh), thuộc Tổ chức NCTM Studio Legale Associato, cho rằng hành vi bán phá giá xảy ra khi giá trị thông thường được xác định cao hơn giá xuất khẩu. Hành vi bán phá giá sẽ bị lên án nếu nó gây thiệt hại cho một ngành công nghiệp nước nhập khẩu. Như vậy, để có thể xác định được hành vi bán phá giá hàng hóa, trước hết phải xác định được “giá trị thông thường” của hàng hóa. Đặc biệt, tác giả còn đưa ra những luận giải vì sao luật pháp WTO đề cập đến giá trị thông thường ở nước xuất xứ chứ không phải là giá cả hoặc giá thị trường.
Qua những phân tích chi tiết về vấn đề xác định thế nào là sản phẩm thông thường của WTO, tác giả này đã đi đến kết luận rằng, mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng khái niệm giá trị thông thường trong luật chống bán phá giá của WTO là đảm bảo rằng: (i) giá trị thông thường được xây dựng phản ánh mức giá theo định hướng thị trường mở dựa trên cạnh tranh công bằng; và (ii) có sự so sánh công bằng giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu. Việc xây dựng giá trị thông thường phải được thực hiện theo những tiêu chí này. Trong phạm vi mà luật WTO không đặt ra các quy tắc rõ ràng về việc cơ quan điều tra sẽ làm gì khi chi phí không được phản ánh hợp lý trong sổ sách của nhà sản xuất xuất khẩu, thì các cơ quan có thẩm quyền chống bán phá giá đó được trao quyền, trong giới hạn, để xây dựng giá trị thông thường của sản phẩm. Khi các tiêu chí đó được đáp ứng, cơ quan có thẩm quyền có toàn quyền quyết định các chi phí phù hợp sẽ được sử dụng để xây dựng giá trị thông thường; và, khi cần thiết, cơ quan có thẩm quyền có thể sử dụng chi phí và giá cả khác với giá của nước xuất xứ.
Tuy nhiên, việc xác định được “Giá trị thông thường” không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhất là khi phía bị đơn là một quốc gia được cho là có nền kinh tế phi thị trường như trường hợp Trung Quốc. Theo các tác giả Edwin Vermulst, Juhi Dion Sud và Simon J. Evenett (2016), trong đề tài nghiên cứu Normal Value in Anti-Dumping Proceedings against China Post-2016: Are Some Animals Less Equal Than Others? (Giá trị thông thường trong thủ tục điều tra chống bán phá giá đối với Trung Quốc sau năm 2016: Liệu có phải đang tồn tại sự bất bình đẳng giữa các nước?), đã chỉ ra rằng việc xác định giá trị thông thường đối với 11 hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc trong điều kiện nước này bị coi là nền kinh tế phi thị trường sẽ làm ảnh hưởng đến tính chính xác của kết luận điều tra. Các tác giả này cũng cho rằng, việc một số thành viên của WTO tự động coi Trung Quốc là nền kinh tế phi thị trường trong bối cảnh họ không có tiêu chí MES trong luật quốc gia trong thời điểm Trung Quốc gia nhập WTO là không hợp lý.
Trong khi xác định “giá trị thông thường” của sản phẩm, việc lựa chọn được “sản phẩm tương tự” là vô cùng quan trọng để quyết định sản phẩm đó có đang bán phá giá hay không. Khái niệm “Sản phẩm tương tự” được đưa ra trong GATT 1994 nhưng lại không được định nghĩa cụ thể. Chính vì quy định mang tính mở này của GATT mà mỗi quốc gia thành viên sẽ có thể linh hoạt trong việc sử dụng khái niệm sản phẩm tương tự để vận dụng theo các cách khác nhau nhằm bảo vệ ngành sản xuất nội địa. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề hiểu như thế nào cho đúng khái niệm “Sản phẩm tương tự” trong GATT 1994.
Theo các nghiên cứu của Edward S. Tsai (1999), trong tác phẩm “Like” is a four-letter word-GATT Article III’s “Like Product” Conundrum (“Like” là một từ gồm bốn chữ cái-Câu hỏi hóc búa về “Sản phẩm tương tự” trong Điều khoản III của GATT), thuộc Tạp chí 17 Berkeley Journal of International Law, và tác giả Konrad von Moltke (1998), với đề tài nghiên cứu Reassessing “Like Products” Trade (Đánh giá lại khái niệm thương mại về “Sản phẩm tương tự), tại Hội thảo Chatham House Conference, định nghĩa của từ “Like” đang được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào định nghĩa của mỗi nước. Dựa trên cách hiểu về mặt ngữ nghĩa, tác giả Konrad von Moltke (1998) cho rằng từ “like” sẽ có cách hiểu không hoàn toàn giống nhau khi đối chiếu “like” trong ngôn ngữ của tiếng Anh, với “equivalent” trong phiên bản tiếng Pháp của GATT. Còn về phía tác giả Edward S.
Tsai (1999), khi xem xét khái niệm sản phẩm tương tự được xác định trong một số phán quyết của hội đồng giải quyết tranh chấp do GATT xử lý, đã đưa ra nhận định rằng có hai cách tiếp cận khác nhau khi áp dụng điều khoản “sản phẩm tương tự” - một là áp dụng Điều III của GATT theo kiểu linh hoạt; hai là diễn giải theo đúng nghĩa đen. Kết quả là, vai trò của thuật ngữ “sản phẩm tương tự” trong cách tiếp cận thứ nhất khác hoàn toàn với vai trò của nó trong 12 cách hiểu thứ hai. Những kết luận này của các nhà nghiên cứu cho thấy việc không đưa ra định nghĩa cụ thể về “sản phẩm tương tự” của GATT thể hiện tính linh hoạt trong các quy định khung của luật pháp quốc tế. Những quy định mang tính mở này vừa có thể tạo ra một sự thuận lợi tuy nhiên cũng có thể gây ra khó khăn cho các nước thành viên trong các vụ kiện bán phá giá.
Nhóm các công trình nghiên cứu về pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Hầu hết các nghiên cứu đã nêu lên được những nội dung cơ bản về quá trình diễn ra một vụ kiện chống bán phá giá theo pháp luật Hoa Kỳ, từ việc xác định hành vi bán phá giá cho đến các bước tiến hành một vụ kiện. Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề áp dụng pháp luật chống BPG vào các trường hợp cụ thể như thế nào, nhất là đối với các nước đang phát triển bị coi là có nền kinh tế phi thị trường vẫn còn rất hạn chế. Về mặt quy trình kỹ thuật, tài liệu: US International Trade Commission, Antidumping and Countervailing duties, Handbook, 2005 (Ủy Ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ: Cẩm nang Biện pháp Chống bán phá giá và Chống trợ cấp, 2005) của Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ đã mô tả một cách đầy đủ các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hồ sơ khởi kiện một vụ kiện chống bán phá giá.
mặc dù về quy trình điều tra một vụ kiện chống bán phá giá do 2 cơ quan đồng thời tiến hành là DOC và ITC, nhưng tài liệu này chỉ đề cập đến thủ tục điều tra của ITC. Thủ tục điều tra chống bán phá giá của Hoa Kỳ cũng được nêu ra một cách khái quát qua tài liệu An introduction to Anti-dumping law of EU and US as it applies to seafood (Giới thiệu về Luật Chống bán phá giá của Hoa Kỳ và EU áp dụng đối với mặt hàng thủy sản), của nhóm tác giả John Hambrey and David Blandford (2010), theo đó, thủ tục điều tra chống bán phá giá được các tác giả nêu ra một cách khái quát bao gồm: Vai trò của DOC và ITC, các bên tham gia vào thủ tục chống bán phá giá; thủ tục khởi kiện. Tuy nhiên, các vấn đề không được đưa ra phân tích sâu để làm rõ được thực trạng pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ hiện nay như thế nào. 13 Theo tác giả Irwin (2005), trong đề tài The Rise of US Anti-dumping Activity in Historical Perspective (Lịch sử vấn đề gia tăng các hành động chống bán phá giá của Hoa Kỳ), International Monetary Fund Working Paper, đã thực hiện một cách tiếp cận theo hướng lịch sử, thực hiện các nghiên cứu về các hồ sơ chống bán phá giá của Hoa Kỳ kéo dài một khoảng thời gian từ năm 1922 đến 2002.
Tác giả nhận ra rằng có một sự khác biệt giữa số liệu về số lượng đơn yêu cầu và số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá. Trên thực tế, tác giả nhận thấy rằng sự gia tăng số lượng các vụ kiện chống bán phá giá kể từ đầu những năm 1980 phản ánh sự gia tăng của các vụ kiện đa quốc gia, chứ không phải là sự gia tăng số lượng hàng hóa. Irwin lưu ý rằng điều này ít nhất một phần là do một sự thay đổi hợp pháp vào năm 1984 cho phép chấp nhận tất cả các kiến nghị được nộp cùng một ngày trên cùng một sản phẩm để xác định thiệt hại. Tác giả cũng xem xét các yếu tố kinh tế vĩ mô, và thấy rằng trong giai đoạn này, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ nhập khẩu so với GDP đã có ảnh hưởng lớn đến số lượng đơn kiện được nộp.
Một nghiên cứu khác đã xem xét một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến quyết định nộp hồ sơ kiện chống bán phá giá. Theo tác giả Blonigen, Bruce (2004), trong Working the System: Firm Learning and the Antidumping Process (Sự vận hành của quy trình chống bán phá giá và những bài học rút ra), NBER Working Paper, đã xem xét liệu trước đó nếu doanh nghiệp đã nộp đơn yêu cầu khởi kiện chống bán phá giá có thể làm tăng khả năng doanh nghiệp này sẽ nộp đơn khác hay không. Tác giả nhận thấy rằng khả năng một bản kiến nghị được đệ trình trong một ngành công nghiệp (được xác định bởi các mã Phân loại công nghiệp tiêu chuẩn gồm 4 chữ số) sẽ nộp đơn thỉnh nguyện tăng từ 2% lên 9% nếu có đã từng có kinh nghiệm về nộp đơn chống bán phá giá trước đó. Blonigen và Thomas J.
Prusa (2001), trong đề tài nghiên cứu Antidumping (Chống bán phá giá), thuộc National Bureau of Economic Research, cho rằng mặc dù việc điều tra chống bán phá giá được giao cho các cơ quan độc lập tùy thuộc vào các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý rằng ngay cả ở những quốc gia như Hoa Kỳ hay Canada dường như các cơ quan điều tra độc lập với chính phủ vẫn có thể bị áp lực từ vấn đề chính trị. Việc 14 trao quyền xử lý các vụ việc bán phá giá cũng được tổ chức tùy theo từng nước, ví dụ Hoa Kỳ có DOC được trao quyền ra quyết định điều tra chống bán phá giá, và ITC có nhiệm vụ xác định thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra.