chương 1: Nhằm mục đích đưa kế toán Việt Nam ngày càng tiệm cận với Thông lệ kế toán quốc tế trong giai đoạn hội nhập, vì vậy “Thực tiễn và giải pháp vận dụng giá trị hợp lý trong doanh nghiệp Việt Nam theo Chuẩn mực kế toán quốc tế” là vấn đề cấp thiết hiện nay để giúp các doanh nghiệp Việt Nam có định hướng và xác lập phương hướng vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam. Mục tiêu của đề tài: xây dựng mô hình và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp. Nghiên cứu thực hiện 2 giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Bố cục luận văn gồm 5 chương: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu; Cơ sở lý luận về giá trị hợp lý; Thực trạng giá trị hợp lý được áp dụng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam; Xây dựng mô hình giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam; Một số giải pháp và kiến nghị để triển khai giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
-8- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ 2.1 Định giá trong kế toán: 2.1 Khái niệm định giá trong kế toán: Định giá là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố báo cáo tài chính được ghi nhận và trình bày trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh [19] hay định giá là xác định giá trị bằng tiền tệ cho các đối tượng hoặc sự kiện liên quan đến doanh nghiệp. Định giá thường diễn ra thường xuyên trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp như khi giao dịch, mua bán, sản xuất. Định giá là một công việc quan trọng kế toán tài chính. Định giá trong kế toán: Trong kế toán, với chức năng “thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” [8] thì định giá xác định giá trị tiền tệ khi phản ánh các đối tượng và các nghiệp vụ kinh tế.
Xét trong mối quan hệ giữa nghiệp vụ với giao dịch thì định giá bao gồm hai loại: - Định giá ban đầu: là xác định giá trị của đối tượng kế toán ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh để ghi nhận vào sổ sách kế toán. - Định giá sau ghi nhận ban đầu: là xác định lại giá trị của các đối tượng kế toán sau một kỳ nhất định, xuất phát từ sự thay đổi của các đối tượng như: hao mòn, đánh giá lại… 2.2 Tầm quan trọng của định giá: Định giá là một công việc quan trọng trong kế toán tài chính Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán: Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [14]. -9- Định giá ảnh hưởng đến quyết định của người đọc báo cáo tài chính: Định giá ảnh hưởng đến tất cả các khoản mục của báo cáo tài chính, từ đó nó ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp … 2.3 Các giả thiết, nguyên tắc kế toán ảnh hưởng đến việc định giá: Kế toán tài chính phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và phải đảm bảo tính chất trung thực, hợp lý, việc định giá trong kế toán phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định để tránh sự tùy tiện hoặc chủ quan của người kế toán. Để đạt được mục đích trên, báo cáo tài chính thỏa mãn các đặc điểm chất lượng.
Những nguyên tắc kế toán có ảnh hưởng rõ rệt đến định giá dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB framework) đưa ra hai giả định cơ bản (cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục) và bốn đặc điểm chất lượng (tính có thể hiểu được, tính thích hợp, tính có thể so sánh được và tính đáng tin cậy). Cơ sở dồn tích (Accrual Basis): Nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng ra quyết định, báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích. Theo cơ sở dồn tích, ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh tế hay sự kiện khác được ghi nhận khi chúng xảy ra. Một nghiệp vụ kinh tế phải được ghi nhận trong sổ sách kế toán và trình bày trên các báo cáo tài chính vào các thời kỳ mà chúng có liên quan.
Hoạt động liên tục (Going concern): Báo cáo tài chính được lập trên giả định rằng doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ không có ý định ngừng hoạt động trong một tương lai gần. Giả định này ảnh hưởng quan trọng đến việc định giá. Nó là cơ sở cho phép giá gốc được sử dụng để đánh giá và trình bày các yếu tố báo cáo tài chính. Nếu giả định này bị vi phạm thì tài sản doanh nghiệp phải trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được.
- 10 - Tính có thể hiểu được (Understandability): Liên quan đến việc phân loại, diễn giải và trình bày một cách rõ ràng và súc tích. Người đọc được yêu cầu phải có kiến thức hợp lý về hoạt động kinh doanh và kinh tế, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, có thể hiểu được. Một số trường hợp phức tạp, người đọc có thể cần tư vấn để hiểu được. Các thông tin thích hợp không được loại trừ khỏi báo cáo tài chính vì chúng quá phức tạp hoặc khó hiểu đối với một số người sử dụng không có sự trợ giúp.
Tính thích hợp (Relevance): Thông tin cần phải thích hợp đối với nhu cầu ra quyết định của người sử dụng. Thông tin thích hợp khi chúng ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng, giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai hay xác định hay điều chỉnh các đánh giá quá khứ của họ. Đáng tin cậy (Reliability): Thông tin hữu ích khi chúng đáng tin cậy. Thông tin được gọi là đáng tin cậy khi chúng không bị sai sót hoặc thiên lệch một cách trọng yếu.
Đặc điểm đáng tin cậy với nguyên tắc khách quan và nguyên tắc thận trọng ảnh hưởng rõ rệt đến định giá. - Nguyên tắc khách quan (Neutrality): Thông tin trên báo cáo tài chính phải khách quan, không bị sai lệch một cách cố ý. Nguyên tắc khách quan ảnh hưởng lớn đến định giá. Nguyên tắc này yêu cầu các loại giá được sử dụng phải có thể xác định được và có thể kiểm chứng được.
Đây cũng chính là lý do khiến cho hệ thống kế toán dựa trên giá gốc được chấp nhận ở hầu hết các nước trên thế giới. Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin làm cho yêu cầu có thể có được và có thể kiểm chứng được trở nên dễ dàng làm xuất hiện nhiều loại giá khác được sử dụng: giá thay thế, giá thị trường, giá trị hợp lý… - Nguyên tắc thận trọng (Prudence): Nguyên tắc thận trọng yêu cầu phải trình bày nội dung về các sự kiện, tình thế không chắc chắn khó có thể tránh được. Nguyên tắc thận trọng nhằm mục đích tránh - 11 - thổi phồng giá trị tài sản, nhưng cũng không có nghĩa là giấu bớt giá trị thực của tài sản. Nguyên tắc này ảnh hưởng đến việc định giá: yêu cầu giá được sử dụng không làm thổi phồng giá trị tài sản, có nghĩa là tài sản được ghi nhận không được vượt khỏi giá trị thuần có thể thực hiện.
Có thể so sánh được (Comparability): Báo cáo tài chính chỉ hữu ích khi thông tin cần được trình bày sao cho người đọc có thể so sánh với các năm trước, với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác. Các nghiệp vụ giống nhau phải được đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàn doanh nghiệp, giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp. Việc thuyết minh là cần thiết để đảm bảo tính so sánh được. Đặc điểm này chính là lý do để thông tin được trình bày theo hình thức tiền tệ.
Không những thế, nó còn chi phối đến phương pháp định giá: các phương pháp định giá khác nhau sẽ dẫn đến tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khác nhau.4 Các loại giá được sử dụng: Quá trình phát triển các lý thuyết và thực tiễn hoạt động kế toán đã dẫn đến sự ra đời nhiều loại giá khác nhau, theo hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS – International Fianancial Reporting Standards) các loại giá được phân thành các loại sau: 2.1 Giá đầu vào hay Chi phí đầu vào (Cost based): Giá gốc (Historical cost): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả hay giá trị hợp lý của tài sản tại thời điểm có được tài sản. Giá gốc còn được coi là giá phí lịch sử, giá phí, giá thực tế. Giá hiện hành (Curent cost) hay giá thay thế (Replacement cost): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương tự tại thời điểm hiện tại. Giá thay thế được ước tính dựa vào giá thị trường, hoặc chỉ số giá đặc biệt, hoặc sự ước lượng của nhà quản lý.2 Giá đầu ra (Value based): Giá trị thuần có thể thực hiện (Net realizable value): là số tiền hoặc tương đương tiền thuần sẽ thu được khi bán tài sản hoặc sẽ phải trả để thanh toán nợ hiện tại.
Giá trị thuần có thể thực hiện là giá bán ước tính trong điều kiện kinh doanh bình thường trừ chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ. Hiện giá (Present value): là giá trị hiện tại chiết khấu của các khoản tiền thuần nhận được từ việc sử dụng tài sản hoặc sẽ trả để thanh toán nợ.3 Các loại giá khác: Giá thị trường (Market value): là giá của tài sản hoặc nợ phải trả được xác định trên thị trường hoạt động. Giá trị hợp lý (Fair value): là giá mà doanh nghiệp có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc phải trả để thanh toán một khoản nợ phải trả trong giao dịch thông thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.4 Một số khoản mục được đánh giá theo sự lựa chọn giữa một trong hai loại giá: Giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường (LCM – Lower of cost anh market value): thường được áp dụng trong hệ thống kế toán Mỹ trình bày khoản mục tồn kho. Giá thị trường trong LCM là giá thay thế nằm trong phạm vi giá trần và giá sàn.