CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THÂM HỤT TÀI KHOÁ VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về thâm hụt tài khoá 1.1 Khái niệm thâm hụt tài khoá Thâm hụt tài khoá hàng năm được định nghĩa là sự chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi trong năm đó của Chính phủ. Theo định nghĩa của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) thì thâm hụt tài khoá được xác định là phần chênh lệch giữa tổng thu ngân sách Nhà nước (bao gồm các khoản thu vào ngân sách Nhà nước mà không kèm theo nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp, như vậy theo định nghĩa này vay nợ không phải là một nguồn thu ngân sách Nhà nước) và tổng chi ngân sách Nhà nước (bao gồm chi trả lãi vay nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc). Theo cách tính của Tổng cục thống kê Việt Nam thì thu ngân sách Nhà nước gồm toàn bộ các nguồn thu vào ngân sách Nhà nước từ các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ dân cư trong nước và các nguồn thu từ ngoài nước, bao gồm các khoản: thu từ thuế, phí, lệ phí, thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; thu viện trợ của nước ngoài, các khoản thu khác. Chi ngân sách Nhà nước gồm toàn bộ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, dân cư trong nước và ngoài nước, bao gồm các khoản: chi đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ nước ngoài, các khoản chi khác.
Thâm hụt tài khoá là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm vì nó ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế của một quốc gia. Khi hiện tượng thâm hụt tài khoá diễn ra đồng nghĩa với việc ngân sách Nhà nước đang bị bội chi, đây là tình trạng diễn ra phổ biến ở các nước đang phát triển. Ngân sách Nhà nước bội chi nhưng được kiểm soát chặt chẽ và phục vụ cho hoạt động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc chống suy thoái thì việc bội chi mang ý nghĩa tích cực. Ngược lại, nếu tình trạng bội chi diễn biến thường xuyên, liên tục, không có biện pháp kiểm soát làm gia tăng nợ công sẽ gây nhiều tác 6 động nghiêm trọng đối với nền kinh tế.
Xét về tính chất, thâm hụt tài khoá có thể chia làm hai loại: Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của Chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục và quốc phòng,. Thâm hụt cơ cấu mang tính chủ quan và được Nhà nước chủ động điều tiết. Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi biến động của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ, khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên, gây ra hiện tượng thâm hụt.
Thâm hụt chu kỳ mang tính khách quan và bị động, nằm ngoài khả năng điều tiết của Nhà nước.2 Những nguyên nhân dẫn đến thâm hụt tài khoá Thâm hụt tài khoá được gây ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân cơ bản như sau: Nguồn thu từ thuế bị thất thu: Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý nền kinh tế mà là nguồn thu quan tro ̣ng, chủ yếu và bền vững nhất cho ngân sách Nhà nước. Thông qua việc thu thuế Nhà nước có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ. Nhưng với những quốc gia có hệ thống pháp luật về thuế chưa hoàn thiện, chứa đựng nhiều bất cập sẽ tạo kẽ hở cho một số cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, tránh thuế, khiến nguồn thu này bi ̣ thất thoát. Ngoài ra nếu các chính sách miễn, giảm, ưu đãi thuế không được tính toán một cách khoa học, hợp lý sẽ dẫn đến số thu về thuế cũng bị ảnh hưởng.
Tác động của chu kỳ kinh doanh, nếu nền kinh tế rơi vào pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực công lẫn khu vực tư gặp nhiều khó khăn. Khi có suy thoái, sản lượng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đến thị trường vốn thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội. Do đó, tình trạng thu ngân sách nhà nước sụt giảm so với trước giai đoạn suy thoái; trong khi đó 7 ngoài các khoản chi thường xuyên, Chính phủ cần chi khuyến khích đầu tư, sản xuất nhằm khôi phục nền kinh tế và điều tất yếu không thể tránh khỏi là thâm hụt tài khoá càng lớn. Thâm hụt tài khoá do Chính phủ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Thâm hụt tài khoá thường xảy ra khi Chính phủ dùng chi ngân sách như một công cụ quan của Nhà nước nhằm tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển khác nhau. Ví dụ, để giúp nền kinh tế phát triển, Chính phủ thường tiến hành tăng chi tiêu để xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, điện nước,… Bên cạnh đó, nhưng yếu tố tác động từ bên ngoài cũng là một trong nhưng nguyên nhân làm thâm hụt tài khoá, ví dụ thiên tai, bệnh dịch, tình hình kinh tế chính trị bất ổn, tham ô, lạm phát,… Nguyên nhân từ quản lý, điều hành ngân sách bất hợp lý gây ra thất thu ngân sách, đầu tư công kém hiệu quả, Nhà nước huy động vốn để kích cầu, quy mô Chính phủ quá lớn, các hoạt động chi không có trọng tâm, kiểm soát yếu làm thất thoát, lãng phí,… Ngoài ra, thâm hụt tài khoá có thể do các nhân tố kỹ thuật tác động. Các yếu tố như phân loại, tính toán, phương pháp kế toán nếu không được xác định hợp lý sẽ phản ảnh không đúng về tình hình thu ngân sách cũng như quy mô chính phủ có thể là nguyên nhân gây ra thâm hụt tài khoá.3 Thâm hụt tài khoá và các yếu tố vĩ mô 1.1 Thâm hụt tài khoá và nợ công Thâm hụt tài khoá hàng năm được định nghĩa là sự chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi trong năm đó của Chính phủ. Trong khi đó, nợ công được tính toán dựa trên giá trị cộng dồn của các khoản thâm hụt tài khoá qua các năm (trừ khi có việc phát hành tiền hoặc bán tài sản quốc gia để bù đắp cho thâm hụt tài khoá).
Như vậy, giữa thâm hụt tài khoá và nợ công có mối quan hệ mật thiết và trực tiếp với nhau. Công tác kiểm soát và quản lý thâm hụt tài khoá và nợ công cũng quan trọng và cấp thiết như nhau.2 Thâm hụt tài khoá và lạm phát Thâm hụt tài khoá thường được bù đắp bằng tăng thu, vay nợ hoặc phát hành tiền. Những khoản chi tiêu của Chính phủ không được tài trợ bởi thu thuế hoặc các khoản thu khác có thể góp phần dẫn đến sự dư thừa của tổng cầu và gây lạm phát. Sargent và Wallace (1981) đã khẳng định những Chính phủ tài trợ cho thâm hụt tài khoá bằng việc tăng cung tiền sẽ tạo ra lạm phát cao trong tương lai, vì đã nghiên cứu thấy rằng ngân hàng trung ương sẽ buộc phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách, không sớm thì muộn.
Kết quả của việc in thêm tiền đó là cung tiền tăng và lạm phát sẽ xảy ra, ít nhất là trong dài hạn. Hơn thế nữa Friedman (1956) đã chỉ ra rằng lạm phát sẽ tồn tại song hành với sự thay đổi về lượng tiền cung ứng. Nếu chỉ một phần nhỏ thâm hụt tài khóa được tài trợ bằng cách tăng cung tiền thì có thể không gây lạm phát. Tuy nhiên, nếu việc tài trợ này là lớn và liên tục trong nhiều năm thì chắc chắn nền kinh tế cuối cùng sẽ phải trải qua lạm phát cao và kéo dài.3 Thâm hụt tài khoá và lãi suất Khi không chịu các ràng buộc hành chính thì lãi suất sẽ được quyết định bởi cung cầu trên thị trường vay vốn, tức là nơi gặp gỡ giữa tiết kiệm của tư nhân và đầu tư của các doanh nghiệp.
Tổng của tiết kiệm Chính phủ và tiết kiệm tư nhân, hay còn gọi là tiết kiệm quốc gia, sẽ phản ánh cung còn đầu tư đại diện cho phía cầu của thị trường vốn vay. Thâm hụt tài khóa sẽ làm giảm tiết kiệm Chính phủ, giảm tiết kiệm quốc gia, do vậy làm giảm cung và làm tăng lãi suất vay vốn trên thị trường. Sự gia tăng của lãi suất cuối cùng sẽ làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Đây chính là hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân của chi tiêu công.
Hay nói cách khác, khi chi tiêu công thái quá sẽ dẫn đến thâm hụt tài khoá. Chính phủ buộc phải vay nợ thông qua phát hành trái phiếu và làm giảm lượng vốn vay trên thị trường mà đáng lẽ ra khu vực tư nhân có thể tiếp cận được với giá thấp.2 Tổng quan về thâm hụt thương mại 1.1 Khái niệm thâm hụt thương mại Cán cân thương mại hay còn được gọi là cán cân mậu dịch, là một khoản mục quan trọng trong tài khoản vãng lai, thành phần của cán cân thanh toán quốc tế. Cán 9 cân thương mại ghi nhận kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu một quốc gia so với các quốc gia khác trong một thời gian nhất định, nó là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Thâm hụt thương mại là tình trạng kim ngạch xuất khẩu nhỏ hơn kim ngạch nhập khẩu, nếu ngược lại, kim ngạch xuất khẩu lớn hơn kim ngạch nhập khẩu sẽ xảy ra tình trạng thặng dư thương mại.
Cán cân thương mại = Kim ngạch xuất khẩu – Kim ngạch nhập khẩu. Trong đó: Kim ngạch xuất khẩu (trị giá xuất khẩu) hàng hóa là tổng số ngoại tệ thu được sau khi bán hàng xuất khẩu cho khách hàng nước ngoài. Thường kim ngạch xuất khẩu được tính trong vòng 1 năm. Kim ngạch nhập khẩu (trị giá nhập khẩu) hàng hóa là tổng số ngoại tệ mất đi sau khi mua hàng nhập khẩu từ phía nước ngoài.
Cũng giống như kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu thường được tính trong vòng 1 năm.2 Ảnh hưởng của thâm hụt thương mại đến nền kinh tế Cán cân thương mại là một bộ phận lớn của tài khoản vãng lai.