CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 1. Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 1. Định nghĩa Việt Nam là một quốc gia Xã hội Chủ nghĩa nhưng đối với sự phát triển kinh tế lại mang nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công ty TNHH một thành viên về tư cách là một loại hình tổ chức kinh tế, phụ thuộc vào thể chế chính trị và pháp luật của mỗi quốc gia.
Vì thế khái niệm “công ty TNHH” sẽ có những điểm khác nhau tùy vào quốc gia nơi công ty đó được thành lập. Về mặt chung nhất, công ty TNHH một thành viên còn được gọi là “công ty TNHH một chủ”. Trong phân loại các loại hình doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên cùng với công ty TNHH hai thành viên trở lên đều được xếp vào mô hình công ty TNHH. Tuy vậy sự ra đời của công ty TNHH có thể coi là hệ quả của việc công ty TNHH hai thành viên trở lên biến đổi thành.
Vì những thay đổi trong quá trình hợp tác kinh doanh dẫn đến toàn bộ tài sản và quyền hạn của các thành viên chuyển vào một cá nhân hoặc một tổ chức. Ví dụ công ty TNHH có ba thành viên trong hội đồng thành viên (cơ quan cao nhất điều hành hoạt động của công ty TNHH) do gặp phải biến cố gì đó mà có hai thành viên rời khỏi công ty nên công ty chỉ còn 1 người sở hữu. Các quốc gia khác nhau trên thế giới cũng nhìn nhận dưới góc độ khái niệm là khác nhau, lấy ví dụ ở ba quốc gia là Pháp, Anh, Mỹ. Tại Pháp, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (BLDSCH) quy định: “Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do Luật định bằng hành vi ý chí của một người”.
Bên cạnh đó Luật công ty TNHH của Đức quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn do một hay nhiều người sáng lập trên cơ sở những quy định của Luật và theo đỏ có mục đích hoạt động được pháp luật cho phép”. Đối với Mỹ, hệ thống pháp luật tại quốc gia này không nói rõ về công ty trách nhiệm hữu hạn mà chỉ quy định cho phép thành lập công ty TNHH một chủ. 6 Tại Việt Nam, Luật Công ty 1990 không quy định về công ty TNHH một thành viên mà chỉ quy định về công ty TNHH có nhiều thành viên (2 thành viên trở lên) và cho đến Luật Doanh nghiệp 1999 mới thừa nhận mô hình công ty TNHH một thành viên. Điều 74 Luật Doanh nghiệp 2020 đã đưa ra khái niêm như sau: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty).
Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.” Như vậy có thể nhận thấy, tuy rằng có sự tiếp cận cũng như quy định khác nhau nhưng các quốc gia vẫn thừa nhận sự tồn tại của mô hình công ty trách nhiệm một thành viên. Các quốc gia ghi nhận sự hình thành của loại hình doanh nghiệp này là “không có sự liên kết” giữa hai hay nhiều cá nhân tổ chức với nhau để thành lập công ty mà chỉ cần là một cá nhân hoặc tổ chức đứng ra thành lập. Sự ghi nhận và đảm bảo “Quyền tự do kinh doanh” dẫn đến cần một mô hình doanh nghiệp mang bản chất pháp lý doanh nghiệp đồng thời bảo đảm tính tự do cá nhân là xu thế tất yếu. Từ đó có thể khái quát định nghĩa về công ty TNHH một thành viên như sau: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, do một cá nhân hoặc tổ chức làm chủ sở hữu.
Chủ sở hữu chịu mọi trách nhiệm về hoạt động của công ty trong phạm vi vốn điều lệ đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền”. Đặc điểm Thông qua định nghĩa đã đưa ra ở trên, ta có thể đánh giá các đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên như sau: Thứ nhất, Công ty TNHH một thành viên do một cá nhân hoặc một tổ chức là chủ sở hữu công ty. Chủ sở hữu công ty bao gồm cá nhân hoặc tổ chức. Chủ sở hữu phải áp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và năng lực hành vi kinh doanh.
Đặc điểm này cũng là cơ sở pháp lý để phân biệt với DNTN khi 7 chủ sở hữu DNTN là một cá nhân. Chủ sở hữu công ty được thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Thứ hai, Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Một tổ chức có tư cách pháp nhân khi và chỉ khi đáp ứng được đủ 4 điều kiện mà BLDS đã quy định, đó là: Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh minh tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Tính từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN), công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ với tư cách là một thương nhân theo quy định của pháp luật. Đây cũng là điểm khác của công ty TNHH một thành viên so với công ty tư nhân. Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân; mặt pháp lý sẽ giống “thể nhân” ở nhiều góc độ. Công ty cũng có tên riêng, có chỗ ở (gọi là trụ sở), có quốc tịch, có tài sản riêng, có năng lực pháp lý, hiểu là năng lực thực hiện những hành vi pháp lý.
Tên công ty: Pháp nhân giống như con người, cũng có tên để có thể phân biệt công ty này với công ty khác. Tên công ty TNHH một thành viên phải được lưu vào sổ đãng ký thương mại (ở Việt Nam gọi là phòng đăng ký kinh doanh) theo tên đã chọn. Kể từ thời điểm đó, tên của công ty sẽ được bảo vệ, công ty khác thành lập sau sẽ không được sử dụng tên đó nữa. Trụ sở: Công ty TNHH một thành viên phải có trụ sở, cũng như công dân phải có nơi ở.
Trụ sở là nơi công ty đặt cơ sở chính, cho nên cơ quan điều hành và quản trị của công ty TNHH một thành viên ở đâu thì trụ sở được đặt ở đó. Quốc tịch: Pháp luật quốc gia mà công ty mang quốc tịch sẽ quyết định địa vị pháp lý của công ty đó. Quốc tịch của công ty là những liên hệ về mặt pháp lý của công ty đó với pháp luật một quốc gia. Vấn đề quốc tịch công ty TNHH một thành viên nói riêng ở Việt Nam cho đến này vẫn đang là một vấn đề còn nhiều tranh luận, chưa đề cập một cách tường minh trong hệ thống pháp luật.
8 Thứ ba, Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong hữu hạn số vốn điều lệ của công ty. Đây là đặc điểm cho phần “trách nhiệm hữu hạn” trong tên gọi doanh nghiệp. Đây là một điểm khác biệt so với chế độ “trách nhiệm vô hạn” của chủ sở hữu DNTN (trách nhiệm vô hạn). Công ty TNHH một thành viên có sự tách bạch tài sản giữa tài sản chủ sở hữu công ty và tài sản của công ty.
Nguyên tắc phân tách tài sản được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm pháp lý của công ty trong quá trình hoạt động (vốn cam kết hoặc số vốn đã góp vào công ty). Tài sản này được pháp luật công nhận thuộc quyền sở hữu của pháp nhân, nghĩa là pháp nhân có toàn quyền sử dụng mà không chịu sự chi phối, kiểm soát của bất kỳ ai. Tài sản đó phải hoàn toàn tách biệt với tài sản của các cá nhân là thành viên nên các thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm giới hạn trong phạm vi phần vốn góp vào tổ chức. Đây là sự khác biệt rất lớn để phân biệt giữa pháp nhân với thể nhân (cá nhân) Thứ tư, Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có thể chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho chủ thể khác.
Việc chủ sở hữu chuyển nhượng vốn góp trong công ty phải tuân thủ theo các điều kiện nhất định. Trường hợp chủ sở hữu công ty thực hiện việc chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác có thể làm thay đổi loại hình công ty. Công ty phải chuyển sang hoạt động theo loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc là công ty cổ phần kèm theo đăng ký thay đổi nội dung với Cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Vai trò của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tại Việt Nam, pháp luật thừa nhận và ghi nhận các loại hình doanh nghiệp cụ thể gồm: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên công ty, công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần.
Loại hình hộ kinh doanh cũng là một hình thức tổ chức kinh doanh buôn bán nhưng không được xếp vào là doanh nghiệp vì không có những đặc điểm chung của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế đa thành phần, nhóm doanh nghiêp đóng vai trò quan trọng và khả năng tác động mạnh mẽ đến sự phát 9 triển chung của kinh tế toàn xã hội. Đồng thời với vai trò phát triển kinh tế nói chung, doanh nghiệp được coi là công cụ thực hiện các chính sách của Nhà nước. Mặc dù loại hình công ty TNHH một thành viên mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong khoảng thời gian ngắn, tuổi đời hình thành còn non trẻ so với các mô hình doanh nghiệp khác, lần đầu trong Luật Doanh nghiệp 1999 (mục 2 chương 3 Luật DN 1999) và sau đó là các phiên bản cải tiến của Luật Doanh nghiệp nhưng giai đoạn nào thì loại hình doanh nghiệp này cũng đều có những đóng góp to lớn khác nhau cho kinh tế - xã hội.