CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn, đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của cả nước bởi khả năng cạnh tranh cao do có lợi thế về tự nhiên và được thiên nhiên ưu đãi. Trải qua những bước thăng trầm, ngành thuỷ sản, từ một lĩnh vực kinh tế nhỏ bé thuộc khối nông nghiệp, đã vươn lên trở thành một ngành kinh tế quan trọng, là mũi nhọn của đất nước. Với việc đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, tận dụng được điều kiện tự nhiên xã hội đất nước, ngành thuỷ sản đã có sự phát triển vượt bậc, mỗi năm đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn, phục vụ tái đầu tư, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Vai trò quan trọng của ngành thủy sản trong sự phát triển kinh tế - xã hội, với tốc độ phát triển nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu, ngành thủy sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay. Trong thời đại hiện nay, quá trình hội nhập đang trở thành một xu hướng toàn cầu, đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy sự tham gia của các quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu. Sự xuất hiện của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD),. đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và hợp tác kinh tế giữa các quốc gia.
Đồng thời, việc tham gia và ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do thế hệ mới sẽ ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế quốc gia thông qua việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu. Trong số đó, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) nổi bật như một bước tiến quan trọng, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa giữa các quốc gia tham gia. Với thị trường khoảng 500 triệu dân, quy mô kinh tế của nhiều nền kinh tế trong CPTPP tương đối lớn, hiệp định CPTPP sẽ đem lại những lợi ích rõ rệt đối với Việt Nam. Tham gia hiệp định này, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sẽ có điều kiện thúc đẩy xuất khẩu nhờ vào việc các hàng rào thuế quan hiện nay sẽ được gỡ bỏ.
Bên cạnh đó, CPTPP cũng đặt ra nhiều thách thức cho ngành xuất khẩu thuỷ sản nước ta bởi nhiều điều khoản có lợi cho những nước phát triển hơn là cho các nước đang phát triển. Trước tình hình đó nhóm quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên của 2 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)” nhằm chỉ ra mức độ tác động của các yếu tố đến hoạt động xuất khẩu thuỷ sản khi có hiệp định CPTPP, cùng với cơ sở là kết quả nghiên cứu để xây dựng hệ thống giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường các nước này. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu thủy sản Nguồn gốc lý thuyết của xuất khẩu lần đầu tiên được đề cập bởi Adam Smith (1776) trong nghiên cứu “Nguồn gốc của sự giàu có” kết hợp với lý thuyết lợi thế tuyệt đối, sau đó tiếp tục được Ricardo (1817) phát triển với lý thuyết về lợi thế so sánh, các yếu tố sản xuất sản của Ohlin (1933) và Heckscher (1950).
Nghiên cứu Uner và cộng sự (2013) đã chỉ ra rằng xuất khẩu là phương thức kinh doanh phổ biến trên thị trường quốc tế, hệ số rủi ro thấp, đòi hỏi nguồn lực không cao, có tính linh hoạt cao. Những lý thuyết này cung cấp những hiểu biết hữu ích để giải thích các hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia và cung cấp cơ sở cho tư duy kinh doanh quốc tế được phát triển bởi Leonidou và cộng sự (2010). Tác giả Cao Lệ Quyên với bài nghiên cứu “Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản và đề xuất giải pháp thích ứng” đã dự báo những kịch bản về tác động của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam và đồng thời đề ra những giải pháp thích ứng trong lĩnh vực thuỷ sản của nước ta. Nguyễn Hữu Đạt (2009) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả với số liệu 1990 - 2008. Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tác động đến xuất khẩu thuỷ sản đó là: môi trường quốc tế, môi trường kinh doanh và công nghệ, an toàn vệ sinh thực phẩm. Rabbani và cộng sự (2011) áp dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu tăng trưởng và các nhân tố tác động đến sản lượng nhập khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ từ các quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan. Nghiên cứu cho thấy nguồn cá da trơn nhập khẩu từ các nước này vào Mỹ chịu tác động tích cực bởi giá cá da trơn nuôi của Mỹ, dân số của Việt Nam, của Mỹ và GDP bình quân đầu người của Việt Nam; đồng thời bị tác động tiêu cực bởi cước phí, thuế, nguồn gốc xuất xứ và nhãn hiệu cá da trơn.
3 Nguyễn Xuân Minh và cộng sự (2012) nghiên cứu về xuất khẩu thuỷ sản vùng đồng bằng sông Cửu Long sang thị trường Hoa Kỳ. Nghiên cứu sử dụng lý thuyết mô hình viên kim cương của Michael Porter để phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu thuỷ sản vùng đồng bằng sông Cửu Long sang thị trường Hoa Kỳ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả với số liệu từ 2006 - 2010. Nghiên cứu chỉ ra các thành tựu của xuất khẩu thuỷ sản: Kim ngạch và chất lượng tăng; đa dạng chủng loại; kỹ thuật nuôi trồng tốt.
Những hạn chế đó là: Chất lượng chưa đảm bảo chuẩn quốc tế; hạn chế trong marketing xuất khẩu; xây dựng logistics và vận tải; phát triển ngành thuỷ sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa hiệu quả và quy hoạch phát triển lúng túng. Xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng bởi chất lượng, marketing xuất khẩu, logistics và nguồn nguyên liệu thuỷ sản. Mai Thị Cẩm Tú (2015) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nhật” đã kết hợp các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nhập khẩu và cung khẩu nhằm đảm bảo lợi ích cân bằng cho cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu. Tác giả chỉ ra: khối lượng đánh bắt cá và khối lượng nuôi tôm của Việt Nam, mức độ đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng cho sản xuất và xuất khẩu (cụ thể là vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc), mức thu nhập bình quân đầu người của Nhật tác động dương lên khối lượng xuất khẩu cá, tôm cả trong ngắn hạn và dài hạn; còn giá bán trong nước cá, tôm của Việt Nam, tỷ giá hối đoái thực JPY/ VND, hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật tác động âm lên khối lượng xuất khẩu cá, tôm cả trong dài hạn và ngắn hạn.
Đồng thời, dựa trên kết quả nghiên cứu, nghiên cứu gợi ý các nhóm giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật trong tương lai. Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú (2015) áp dụng mô hình trọng lực và chỉ ra rằng GDP của Việt Nam và của nước nhập khẩu, dân số các quốc gia và tỷ giá có tác động cùng chiều. Trong khi đó, khoảng cách địa lý có tác động ngược chiều và thuế nhập khẩu thủy sản của các quốc gia Âu Mỹ không tác động đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Nghiên cứu thực hiện phương pháp hồi quy kết hợp phương pháp OLS, FEM (Fixed Effect Model) và REM (Random Effect Model) bằng phần mềm Eview 8.
Dữ liệu nghiên cứu hàng năm ở giai đoạn 2006 - 2014 của 26 quốc gia Âu Mỹ và Việt Nam với 243 quan sát. 4 Tương tự như nghiên cứu của Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú (2015), Trần Thanh Long và Phạm Thị Quỳnh Hoa (2015) đã chỉ ra xuất khẩu nông sản hay thuỷ sản chịu ảnh hưởng bởi: GDP, dân số, độ mở cửa kinh tế của Việt Nam và các quốc gia nhập khẩu, tỷ giá hối đoái thực VNĐ/USD, khoảng cách phát triển kinh tế, WTO, APEC tác động dương còn khoảng cách địa lý tác động âm tới giá trị xuất khẩu. Nghiên cứu này chỉ ra được yếu tố mới so với các nghiên cứu trước đó là độ mở cửa kinh tế, WTO và APEC. Natale và cộng sự (2015) nghiên cứu các nhân tố tác động đến thương mại thủy sản quốc tế với dữ liệu của 197 quốc gia thông qua mô hình lực hấp dẫn.
Nghiên cứu chỉ ra rằng thương mại thủy sản bị cản trở bởi khoảng cách địa lý giữa các quốc gia và được thúc đẩy bởi sản lượng sản xuất của nhà xuất khẩu và các FTA khu vực. Trần Thanh Long và Phạm Thị Quỳnh Hoa (2015) cũng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Nghiên cứu cũng vận dụng mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế và đề xuất mô hình lý thuyết, giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: GDP Việt Nam, GDP quốc gia nhập khẩu, GDP/đầu người của quốc gia nhập khẩu, khoảng cách từ thủ đô Việt Nam đến thủ đô quốc gia nhập khẩu, tỷ giá hối đoái giữa VND và tiền tệ quốc gia nhập khẩu và biến giá các hiệp định thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia nhập khẩu. Nghiên cứu thực hiện phương pháp hồi quy kết hợp đồng thời phương pháp OLS, FEM và REM bằng phần mềm Eview 8.
Dữ liệu nghiên cứu hàng năm từ 2010 - 2014 của 30 quốc gia nhập khẩu thuỷ sản từ Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi: GDP Việt Nam (+0,47), GDP quốc gia nhập khẩu (+0,52), GDP/đầu người của quốc gia nhập khẩu (+0,17), hiệp định thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia nhập khẩu (+0,61), tỷ giá hối đoái giữa VND và tiền tệ quốc gia nhập khẩu (-0,08).