CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG SANG THỊ TRƯỜNG EU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁ TRA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 Lý thuyết trọng thương Chủ nghĩa Trọng thương được hình thành ở Châu Âu vào thế kỷ XVI và phát triển đến giữa thế kỷ 18 (thời kỳ tiền TBCN). Những nội dung chính 9 Đề cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải.
Nhà nước nào càng nhiều tiền thì càng giàu có. 9 Họ đặc biệt coi trọng các hoạt động thương mại, mà trước hết là ngoại thương. CNTT cho rằng chỉ có hoạt động Ngoại thương mới là nguồn gốc thực sự của của cải vì nó làm tăng thêm khối lượng tiền tệ. Theo chủ nghĩa trọng thương, khi tham gia vào thương mại quốc tế, muốn có nhiều tiền thì phải thực hiện xuất siêu, phải đạt được thặng dư mậu dịch.
Để đạt được thặng dư mậu dịch bằng cách: 9 Tăng số lượng hàng hóa xuất khẩu 9 Xuất khẩu hàng hóa có giá trị cao ưu tiên hơn hàng hóa có giá trị thấp. Thế kỷ XVI chứng kiến sự khuyến khích xuất khẩu len ở Anh. Đến thế kỷ XVII, Thomas Mun, làm việc cho Công ty Đông Ấn, cho rằng nên khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm chế biến vì chúng tạo ra giá trị cao, cấm xuất khẩu hàng sơ chế. 9 Chủ nghĩa trọng thương không khuyến khích xuất khẩu nguyên liệu mà sử dụng nguyên liệu để sản xuất trong nước rồi đem xuất khẩu thành phẩm.
9 Nhập khẩu: ưu tiên nhập khẩu nguyên liệu so với thành phẩm. Hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm, nhất là hàng xa xỉ. NK vàng và bạc được chú trọng ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu Trang 2 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 9 Khuyến khích chở hàng bằng tàu của nước mình, vì vừa bán được hàng mà còn được cả những món lợi khác như cước vận tải, phí bảo hiểm. 9 Buôn bán được thực hiện bởi các công ty độc quyền của Nhà nước, hạn chế hầu hết hoạt động nhập khẩu và nhiều hoạt động xuất khẩu được trợ cấp.
9 Về lợi nhuận trong thương mại: Họ cho rằng lợi nhuận trong thương mại là kết quả của việc trao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt. 9 Trong thương mại quốc tế, quốc gia này giàu lên là nhờ sự nghèo đi của các quốc gia khác. Thặng dư của nước này nghĩa là thâm hụt của một nước khác. 9 Chủ nghĩa trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế.
Muốn đẩy mạnh xuất khẩu, thực hiện xuất siêu thì Nhà nước phải dùng các biện pháp khuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ về mặt tài chính, trợ giá, bù giá cho nhà xuất khẩu. Muốn hạn chế nhập khẩu thì nhà nước phải áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch 1.2 Học thuyết của A.Smith về thương mại quốc tế Adam Smith (1723-1790), nhà kinh tế học cổ điển người Scotland, người được coi là cha đẻ của kinh tế học, đã phê phán những hạn chế của CNTT và nêu lên những quan điểm mới của mình về thương mại quốc tế. 9 Thương mại đặc biệt là ngoại thương có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của các nước. 9 Adam Smith cho rằng thương mại tạo điều kiện cho phát triển kinh tế nhưng không phải là nguồn gốc của sự giàu có.
Sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào sự sẵn có của hàng hóa dịch vụ hơn là vàng. 9 Thương mại quốc tế giữa các quốc gia là trên cơ sở tự nguyện và các bên cùng có lợi. Sự trao đổi phải là ngang giá. 9 Khác với chủ nghĩa trọng thương cho rằng lợi nhuận là do lường gạt và trao đổi không ngang giá, theo A.
Smith, trao đổi phải ngang giá. Nếu một bên thấy họ rơi vào thế bất lợi, họ sẽ không tham gia vào thương mại quốc tế. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu Trang 3 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 9 Smith phê phán sự phi lý của lý thuyết trọng thương và chứng minh rằng mậu dịch sẽ giúp cả hai bên gia tăng gia sản, qua việc thực thi một nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc phân công. 9 Cơ sở mậu dịch giữa các quốc gia là căn cứ vào lợi thế tuyệt đối của các nước.
9 Lợi thế tuyệt đối của một quốc gia về một sản phẩm nghĩa là quốc gia đó sản xuất ra sản phẩm đó với các chi phí thấp hơn các nước khác. 9 Nguồn gốc của lợi thế tuyệt đối: • Lợi thế tự nhiên: tài nguyên, điều kiện khí hậu, đất đai. Ðiều kiện tự nhiên có thể đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất có hiệu quả rất nhiều sản phẩm như nông sản (cà phê, chè, cao su, dừa, lúa gạo, v.) và các loại khoáng sản (kim cương, dầu mỏ, quặng nhôm, v.) • Lợi thế do nỗ lực: kỹ thuật và sự lành nghề. Sản xuất các thành phẩm: nông sản chế biến, sản phẩm chế tạo phần lớn phụ thuộc vào lợi thế do nỗ lực thường là kỹ thuật chế biến và kỹ năng sản xuất.3 Học thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo về thương mại quốc tế 9 Thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo (Anh, 1772-1823).
Ricardo đã chứng minh được thương mại quốc tế có thể mang lại lợi ích cho các bên tham gia, ngay cả khi một bên có ưu thế sản xuất rẻ hơn bên kia trong tất cả các mặt hàng 9 Theo Ricardo mọi nước đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế. Với cách giải thích như vậy, lý thuyết lợi thế so sánh kêu gọi tự do hóa thương mại, xoá bỏ Chính sách bảo hộ mậu dịch. 9 Nguyên nhân xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế: • Các nước buôn bán với nhau vì họ khác nhau. • Các nước buôn bán với nhau để đạt được lợi thế nhờ quy mô sản xuất: mỗi nước khi chuyên môn hóa vào một số loại hàng thì nước đó có thể sản xuất ở quy mô lớn hơn và do đó có hiệu quả hơn là trong trường hợp nước đó sản xuất tất cả mọi thứ.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu Trang 4 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- • Lợi ích trong thương mại quốc tế bắt nguồn từ lợi thế so sánh. Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn trước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với nước khác trong việc sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế. Bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh về một số mặt hàng. 9 Mỗi nước đều có lợi thế so sánh trong sản xuất một mặt hàng nào đó (và kém lợi thế so sánh trong mặt hàng khác).
Một quốc gia có lợi thế so sánh khi quốc gia đó có khả năng sản xuất một hàng hóa với mức chi phí cơ hội thấp hơn so với các quốc gia khác. Chi phí cơ hội của việc sản xuất ra một hàng hóa là số lượng hàng hóa khác mà chúng ta phải hy sinh khi chúng ta sử dụng nguồn lực để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa đó.4 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh của ngành được xem xét trong mối tương quan giữa các ngành hàng tương ứng của những quốc gia khác nhau để tranh giành thị trường trên phạm vi thế giới. Lợi thế cạnh tranh của ngành sẽ tăng theo qui mô của các ngành hàng và đó là biểu hiện lợi thế bên ngoài của nền kinh tế Lợi thế cạnh tranh của ngành hàng cụ thể của một quốc gia là sự khác biệt về lợi thế cạnh tranh mang tính vượt trội của các nhóm chiến lược trong ngành hàng đó so với các nhóm chiến lược trong ngành hàng tương ứng của những quốc gia khác trên thế giới. Và do đó, năng lực cạnh tranh của ngành hàng biểu hiện qua năng lực cạnh tranh của các nhóm chiến lược trong ngành Nhóm chiến lược là một tập hợp những công ty áp dụng chiến lược sản xuất kinh doanh tương tự nhau.
Mỗi ngành hàng có thể bao gồm một hay nhiều nhóm chiến lược. Dấu hiệu căn bản phân biệt các nhóm chiến lược là giá và bề rộng của dòng sản phẩm (thể hiện qua qui cách chất lượng và chủng loại sản phẩm) Môi trường cạnh tranh của ngành là môi trường kinh tế quốc tế, bao gồm: môi trường thương mại, môi trường sản xuất và môi trường tài chính trong mối liên kết toàn cầu. Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, các ngành hàng luôn đối diện với rất nhiều thời cơ và thách thức. Phản ứng trước thời cơ và thách thức đó của tất cả các doanh nghiệp trong các nhóm chiến lược sẽ tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của những cty đa quốc gia và cty xuyên quốc gia.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu Trang 5 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành phải dựa vào 3 nhóm yếu tố cơ bản như: năng lực cạnh tranh của các nhóm chiến lược trong ngành (biểu hiện qua sự khác biệt về giá cả sản phẩm và bề rộng dòng sản phẩm), cấu trúc và lợi thế theo qui mô của ngành (mặt bằng công nghệ chung của ngành cao hay thấp, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ngành đã phát triển đến chừng mực nào, các ngành liên kết và bổ trợ có đầy đủ và đồng bộ hay không…), nhóm yếu tố về chính sách (vai trò, vị trí của ngành trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia, ngành được qui hoạch ra sao, có phải là ngành kinh tế mũi nhọn, chính sách của chính phủ đối với ngành là khuyến khích hay hạn chế phát triển.) Trong thực tế, lợi thế cạnh tranh của ngành được đánh giá trên cả hai mặt định tính và định lượng. Về mặt định tính sẽ dựa vào mô hình chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm (International Product Life Cycle model – IPLC) của Raymond Vernon, và đánh giá về định lượng sẽ dựa vào biểu đồ tổ hợp (Cluster Chart) những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh cao của quốc gia được đề xướng bởi Michael E. GIỚI THIỆU SẢN PHẨM CÁ TRA 1.1 Đặc điểm: Cá Tra (Pangasius hypophthalmus) là một trong những đối tượng nuôi trồng thủy sản đang được phát triển với tốc độ nhanh tại các tỉnh ĐBSCL (tập trung chủ yếu ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp) và là một trong những loài cá có giá trị xuất khẩu cao.