CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA 1. Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông sản 1. Khái niệm về chuỗi giá trị Khái niệm về chuỗi giá trị (Value Chain) lần đầu tiên được đưa ra bởi Michael Porter vào nằm 1985, trong cuốn sách nổi tiếng của ông “Competitive Advantage”.
Ông cho rằng lợi thế cạnh tranh không thể được hiểu bằng cách nhìn vào một công ty như một tổng thể. Nó xuất phát từ nhiều hoạt động rời rạc mà công ty thực hiện trong việc thiết kế, sản xuất, tiếp thị, phân phối và hỗ trợ sản phẩm của mình. Mỗi hoạt động này có thể đóng góp vào vị trí chi phí tương đối của doanh nghiệp và tạo cơ sở cho sự khác biệt (Porter, Michael E. Đến nay có nhiều khái niệm khác nhau về chuỗi giá trị đã được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu và tổ chức trong và ngoài nước.
Theo Raikes và cộng sự (2000), chuỗi giá trị của một sản phẩm mô tả một luồng dịch vụ và nhập lượng vật chất trong khâu sản xuất để tạo ra một sản phẩm cuối cùng hay dịch vụ. Theo Kaplinsky (2000); Kaplinsky và Morris (2001) chuỗi giá trị nông sản đề cập đến một loạt những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất, chế biến, markting. đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng. Theo đó, một chuỗi giá trị bao gồm nhiều mắc xích hoạt động để tạo ra giá trị gia tăng cho toàn chuỗi.
Một chuỗi giá trị chỉ tồn tại khi tất cả những tác nhân tham gia trong chuỗi cùng hoạt động để tạo ra giá trị tối đa cho toàn chuỗi Theo nghiên cứu của Gereffi và cộng sự (2005), chuỗi giá trị nông sản là cách giúp hộ sản xuất tiếp cận thị trường có hiệu quả nhất hiện nay trên thế giới. Đó là một chuỗi các hoạt động chức năng, từ cung cấp các dịch vụ đầu vào cho một sản phẩm cụ thể cho đến sản xuất, thu hái, chế biến, phân phối, tiếp thị (marketing) và 10 tiêu thụ cuối cùng, qua mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng (Nguyễn Văn Bộ và Đào Thế Anh, 2012; Lê Văn Thu, 2015). Chuỗi giá trị nông sản khá phức tạp, bao gồm các quá trình có những tính chất rất khác nhau: quá trình sản xuất, chế biến, thương mại và tiêu thụ sản phẩm. Để có thể đưa được một nông sản đến tay người tiêu dùng cuối cùng, cần trải qua một chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị, cho thấy chuỗi giá trị của ngành nông nghiệp bao gồm rất nhiều công đoạn khác nhau từ cung ứng nguyên liệu đầu vào, nuôi, trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến marketing, phân phối (Bùi Đức Tuân, 2012; Nguyễn Văn Bộ và Đào Thế Anh, 2012; Nguyễn Thị Thúy Vinh, 2014).
Trong xu hướng toàn cầu hóa, các hoạt động của chuỗi giá trị ở các công đoạn khác nhau sẽ được phân bổ đến những nơi tạo ra giá trị gia tăng cao nhất và hoạt động hiệu quả nhất. Nhìn chung, khái niệm chuỗi giá trị về mặt bản chất là không khác nhau, tuy nhiên tùy vào mục tiêu nhấn mạnh của từng tác giả về các vấn đề có liên quan sẽ đưa ra những khái niệm tương đối khác nhau. Tóm lại, có thể chia làm 3 nhóm khái nhiệm chính: (i) Chuỗi giá trị được xem là tập hợp của các hoạt động. Nhóm khái niệm này nhấn mạnh đến việc mô tả các hoạt động khác nhau được thực hiện trong một chuỗi giá trị.
Đại diện có thể kể đến World Bank (2010), Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO, 2007), Viện Phát triển và Môi trường Quốc tế (2008), GTZ (2007) và Tổ chức Lao động Thế giới (ILO, 2009); (ii) Chuỗi giá trị được xem là tập hợp các tác nhân tham gia trong chuỗi. Khái niệm này nhấn mạnh đến hoạt động của các tác nhân và cơ chế phối hợp giữa các tác nhân với nhau trong quá trình hoạt động. Khái niệm này được đề xuất và áp dụng bởi Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO, 2011); (iii) Chuỗi giá trị được xem như là một mạng lưới chiến lược; nhấn mạnh đến việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thông qua các hoạt động tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm, bên cạnh sự hỗ trợ thúc đẩy của các tổ chức, đơn vị bên ngoài chuỗi. Khái niệm này được đề xuất và ứng dụng bởi Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT, 2007) và Cục phát triển Quốc tế (DFID, 2008).
Từ phân tích trên, trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, chuỗi giá trị có thể được hiểu như sau: Chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động có quan hệ chặt chẽ với 11 nhau từ khâu cung cấp các yếu tố đầu vào cho đến khâu sản xuất, chế biến, marketing và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng. Về mặt không gian, chuỗi giá trị sản phẩm không bị giới hạn bởi một vùng, một quốc gia mà có thể phát triển trên toàn cầu. Về mặt nội dung, chuỗi giá trị liên quan đến hoạt động tạo giá trị hoặc làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm trong tất cả các công đoạn từ nghiên cứu thiết kế, cung ứng đầu vào, sản xuất, chế biến, marketing và phân phối sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Cấu trúc và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Trong một chuỗi giá trị đơn giản, thường bao gồm 3 tác nhân cơ bản, đó là nhà cung cấp, công ty hay nhà sản xuất và khách hàng.
Tuy nhiên, theo Michelal Hugos (2003) mỗi một tác nhân cơ bản lại bao hàm một số tác nhân khác hỗ trợ cho hoạt động của nó. Đó là nhà cung cấp của các nhà cung cấp; các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty; và khách hàng của các khách hàng trong chuỗi. Các công ty cung cấp dịch vụ đầu vào, như dịch vụ hậu cần, tài chính, thông tin thị trường, nghiên cứu và thiết kế sản phẩm (R&D)… cho các công ty khác nhau trong chuỗi. Nhà cung cấp Nhà cung cấp Công đầu vào đầu vào ty/Nhà sản Khách hàng Khách hàng xuất Nhà cung cấp dịch vụ Hình 1.1 Các tác nhân trong chuỗi cung ứng/chuỗi giá trị mở rộng Nguồn: Micheal Hugos, 2003 Nhà sản xuất là những đơn vị trực tiếp làm ra sản phẩm, là nơi kết hợp các yếu tố nguồn lực, đặc biệt là các nguồn lực tự nhiên có lợi thế so sánh để sản xuất ra nguyên vật liệu thô hay cũng có thể sản xuất những thành phẩm.
Trong công nghiệp, đó là các công ty khai khoáng, hay sản xuất bán thành phẩm; trong nông nghiệp là các nông trại chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản. 12 Nhà phân phối là các công ty hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Họ có thể thu mua hàng hóa từ nhà sản xuất để lưu kho và phân phối sản phẩm đến các đại lý hay khách hàng. Nhà phân phối góp phần giúp nhà sản xuất tránh được những tác động tiêu cực từ thị trường bằng cách thu mua và lưu trữ hàng hóa.
Ngoài ra, nhà phân phối còn có chức năng quản lý hệ thống hàng hóa lưu kho, vận chuyển cũng như đảm nhận công tác hỗ trợ và cung cấp dịch vụ hậu mãi cho khách hàng; là cầu nối môi giới sản phẩm của nhà sản xuất với khách hàng. Trong cả hai trường hợp, nhà phân phối đóng vai trò là một tác nhân luôn luôn nắm bắt thị hiếu, nhu cầu của khách hàng để đáp ứng cho họ với những sản phẩm sẵn có (Folkerts. Nhà bán lẻ trữ hàng hóa và bán với số lượng nhỏ hơn cho khách hàng. Họ luôn theo dõi những thông tin về sở thích và nhu cầu của khách hàng mà mình phục vụ, trên cơ sở kết hợp giá cả hợp lý, sản phẩm đa dạng, phục vụ tận tình nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng đến với sản phẩm của mình.
Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào thực hiện hành vi mua sắm và sử dụng hàng hóa, họ có thể là người tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm (Folkerts. Nhà cung cấp dịch vụ là những cá nhân hay tổ chức cung cấp dịch vụ cho các tác nhân khác trong chuỗi. Nhà cung cấp dịch vụ chỉ tập trung vào một công việc đặc thù mà các tác nhân trong chuỗi đòi hỏi và chuyên sâu vào những kỹ năng đặc biệt để phục vụ cho công việc đó. Nhờ vậy, họ thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn so với nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay cả người tiêu dùng tự đảm nhận với mức giá hợp lý.
Đó là nhưng công ty vận tải, dịch vụ lưu kho hàng hóa, dịch vụ tài chính, công nghệ thông tin. Mỗi một sản phẩm có thể có nhiều chuỗi cung hay chuỗi giá trị, mỗi chuỗi đều nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh nhất và giữa các chuỗi có sự cạnh tranh với nhau (Martin Christopher, 2005; Mai Văn Xuân và đồng nghiệp, 2010). Trong thực tế, đa số các doanh nghiệp được cung cấp nguyên vật liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau và phân phối sản phẩm thông qua một hay nhiều khách 13 hàng khác nhau tạo nên cấu trúc mạng lưới của mỗi chuỗi cung sản phẩm cụ thể khác nhau; 14 chiều dài và độ rộng chuỗi phụ thuộc và chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như nhu cầu của khách hàng, xu hướng chung của nền kinh tế, sự sẵn sàng của dịch vụ hậu cần, yếu tố văn hóa, tốc độ đổi mới, sự cạnh tranh, thị trường và sự sắp xếp về tài chính. Chiều dài của chuỗi được tính bằng số lượng các cấp bậc, tác nhân tham gia dọc theo chuỗi.
Một sản phẩm hàng hóa có thể dịch chuyển qua nhiều tác nhân và mỗi tác nhân tạo thêm một phần giá trị cho sản phẩm. Lấy một tác nhân nào đó trong chuỗi làm trung tâm, nếu xét các hoạt động trước nó, quá trình dịch chuyển nguyên vật liệu đến, được gọi là phía thượng nguồn (Upstream); những tác nhân phía sau được gọi là phía hạ nguồn (Downstream). Độ rộng của chuỗi được tính bằng số lượng các tác nhân tại mỗi cấp bậc chức năng, hình thành các tuyến đường để nguyên vật liệu, sản phẩm lưu thông qua (Jenny Backstrand, 2007; Lambert, Stock và Ellean, 1998). Có thể xem Hình 1.
Người Nhà cung Nhà cung Nhà cấp đầu phân tiêu dùng cấp vào đầu vào Nhà phối sản xuất Nhà cung Nhà Người Nhà phân tiêu dùng cấp đầu vào cung cấp phối đầu vào Nhà sản xuất Nhà cung Nhà cung Nhà cấp Người cấp phân đầu vào tiêu dùng đầu vào phối Hình 1.