Chương 1 đã giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu của đề tài bao gồm mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu được áp dụng. Bố cục của nghiên cứu bao gồm 5 chương. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1Tổng quan lý thuyết 2.1Khái niệm xuất khẩu Theo điều 28, mục 1, chương 2, Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, xuất hiện từ lâu đời, ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu.
Hình thức cơ bản ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hóa của các quốc gia, cho đến nay đã phát triển và thể hiện thong qua nhiều hình thức. Như vậy, có thể hiểu xuất khẩu là bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác ưu thế tiềm năng đất nước và nâng cao đời sống dân cư. Xuất khẩu là một khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội và có những chức năng chủ yếu như: + Tạo vốn cho quá trình đầu tư trong nước, chuyển hóa giá trị sử dụng, làm thay đổi cơ cấu giá trị sử dụng của tổng sản phẩm xã hội. Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
Xuất khẩu là nguồn thu chính tạo ra nguồn vốn ngoại tệ tạo tiền đề cho nhập khẩu thông qua yếu tố vốn và kỹ thuật nâng cao khả năng sản xuất, năng lực cạnh tranh của quốc gia. +Thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa từ trong nước sang các nước khác. Hoạt động xuất khẩu giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra ngoài biên giới của một quốc gia. Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dung thiết yếu phục vụ trực tiếp và đáp ứng phong phú them nhu cầu tiêu dùng của dân cư.
Nhờ vậy có thể nâng cao đời sống cho toàn xã hội. +Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 6 +Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của đất nước: vốn, việc làm, sử dụng tài nguyên có hiệu quả +Đảm bảo sự thống nhất giữa nền kinh tế và chính trị trong hoạt động xuất khẩu 2.2Lý thuyết thương mại quốc tế - trường phái trọng thương Trong giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế (Trần Văn Hiếu, 2006), lý thuyết của trường phái trọng thương được quảng bá và vận dụng ở châu Âu từ giữa thế kỉ XV, phát triển cực thịnh vào thế kỉ XVI-XVII. Đây được coi là lý thuyết thương mại đầu tiên của thời kỳ tiền tư bản và nhanh chóng trở thành cơ sở lý luận cho việc định hình cách chính sách thương mại nhiều nước châu Âu thời bấy giờ như: Anh, Pháp, Đức, Hà Lan.
trong suốt hơn 3 thế kỷ. Những nhà kinh tế tiêu biểu đại diện cho trường phái này khá đông đảo nổi bật nhất là Thomas Mun (1571- 1641) người Anh, Antoine Montecheretien (1575-1629), Jean Bastiste Colbert (1618 – 1683) người Pháp đều cho rằng sứ mệnh của bất cứ quốc gia nào là phải làm giàu, phải tích lũy tiền tệ vì vậy các nhà kinh tế này đều tập trung vào xây dựng các chính sách kinh tế nhằm hướng tới mục tiêu làm tăng khối lượng tiền tệ tích lũy qua đó làm tăng mức độ giàu có cho quốc gia của mình. Theo tư tưởng đó, để có nhiều vàng bạc, tiền tệ ngoài việc gia tăng khai thác mỏ cách tốt nhất là đẩy mạnh tối đa ngoại thương. Chính vì vậy, nhà nước phải can thiệp sâu vào thương mại quốc tế, vươn tới xuất siêu.
Phần giá trị thặng dư thương mại này được tính theo vàng hay tiền tệ sẽ làm gia tăng mức độ giàu có cho quốc gia của họ. Để làm được điều đó, nhà nước cần hạn chế nhập khẩu bằng hàng rào thuế quan cao, áp dụng hạn ngạch. Ngược lại về phía xuất khẩu được hưởng những chính sách ưu đãi. Chủ nghĩa trọng thương ủng hộ sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được thặng dư trong cán cân thương mại.
Các nhà trọng thương không cho rằng kim ngạch thương mại lớn là một ưu điểm mà họ đề xuất các chính sách nhằm tối đa hóa xuất khẩu và tổi thiểu hóa nhập khẩu. Để đạt được điều này, nhập khẩu phải được hạn chế bởi các biện pháp như thuế quan và hạn ngạch, trong khi xuất khẩu sẽ được trợ cấp.Thuyết trọng thương có ảnh hưởng sâu sắc đến dự phát triển kinh tế và quan hệ kinh tế 7 quốc tế giữa các nước trong nhiều thế kỷ, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển thương mại quốc tế. Tuy nhiên sau đó, lý thuyết trọng thương bị chỉ trích nặng nề. Năm 1752 nhà kinh tế học Hun (người Anh) đã chỉ ra rằng chính sách thương mại theo lý thuyết trọng thương tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát, làm xấu đi quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế và mục tiêu thặng dư thương mại không thể thực hiện được trong một thời kỳ dài và là ảo tưởng khi tất cả các nước đều theo đuổi mục tiêu này.
Nhược điểm của chủ nghĩa trọng thương là đã nhìn nhận thương mại như một trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game – nghĩa là lợi ích mà một nước thu được chính bằng thiệt hại mà nước khác mất đi.) Hạn chế này đã được các lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo ra đời sau đó chỉ rõ và khẳng định thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích là số dương (positive-sum game –tất cả các nước đều thu được lợi ích). Năm 1776, Adam Smith lại tiếp tục chỉ ra sai lầm của chủ nghĩa trọng thương một khi coi thương mại quốc tế theo quan hệ “được mất”. Theo chủ nghĩa trọng thương sự giàu có của một quốc gia từ thương mại thực hiện trên cơ sở của sự mất mát của quốc gia khác, trong khi đó theo Adam Smith thương mại là một kiểu quan hệ đặc biêt, có mang lại lợi ích cho cả hai bên. Chính từ những hạn chế từ lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương từ giữa thế kỷ VIII, chủ nghĩa này không còn giữ được vị trí thống trị trong thực tiễn hoạt động thương mại thế giới nữa.
Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, học thuyết này không bị mất hoàn toàn giá trị.3Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Đến giữa thế kỷ XVIII, Adam Smith đã đưa ra quan điểm mới về thương mại quốc tế tích cực hơn so với phái Trọng Thương trước đó(Trần Văn Hiếu, 2006). Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh, ông cho rằng chỉ có cá nhân mới thẩm định những hành vi của mình và tư lợi không tương tranh nhau mà hoà nhập vào nhau theo một trật tự tự nhiên. Hệ quả của tư tưởng này là chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và các doanh nghiệp, cứ để họ tự do hoạt động. Dựa vào một số giả định, A.Smith cho rằng hoạt động ngoại thương sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia xuất khẩu sản phẩm có lợi thế tuyệt đối.Smith cho rằng khi sử dụng cùng một nguồn lực vật chất, 8 nước nào sản xuất được nhiều hơn thì nước đó có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hóa đó.
Theo Smith, các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấy những hàng hóa sản xuất bởi những nước khác.Lập luận cơ bản của Adam Smith là một quốc gia không bao giờ nên tự sản xuất những hàng hóa mà thực tế có thể mua được từ các nước khác với chi phí thấp hơn. Và bằng cách chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa mà một nước có lợi thế tuyệt đối, cả hai nước sẽ thu được lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế.Trong trường hợp lợi thế tuyệt đối đổi chiều, cả hai quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế đều thu được lợi ích lớn hơn là khi họ tự sản xuất – cung ứng cho quốc gia mình tất cả các loại hàng hóa. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith được xem như là lý thuyết có cơ sở khoa học đầu tiên về thương mại quốc tế, giải thích vì sao các nước lại quan hệ thương mại với nhau, dựa trên cơ sở nào. Tuy nhiên, lý thuyết này lại không trả lời được câu hỏi là nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối ở hầu hết các sản phẩm, và quốc gia khác (hay phần còn lại của thế giới) thì lại không có lợi thế tuyệt đối ở bất kỳ sản phẩm nào thì mậu dịch quốc tế có xảy ra không và dựa trên cơ sở nào? 2.4 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo David Ricardo đã đưa lý thuyết của Adam Smith tiến xa thêm một bước nữa bằng cách khám phá ra xem điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng(Trần Văn Hiếu, 2006).
Lý thuyết của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối gợi ý rằng một nước như vậy sẽ không thu được lợi ích gì từ thương mại quốc tế. Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage). Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác. Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh.
Kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi 9 thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuấtmọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác.