Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành cà phê giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, đóng góp khoảng 2% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên và miền núi. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu mặt hàng này chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ và Đức, đồng thời chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu lớn khác, các rào cản phi thuế quan và biến động bất lợi về giá trên thị trường thế giới. Trước yêu cầu đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm phân tán rủi ro và gia tăng kim ngạch, thị trường Ý (Italia) nổi lên như một đối tác thương mại trọng điểm.

Ý là quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU), xếp thứ 5 đến thứ 6 trên thế giới về quy mô nhập khẩu cà phê để phục vụ tiêu dùng nội địa và tái xuất khẩu sau chế biến. Trong giai đoạn 2010 – 2012, Ý trở thành thị trường nhập khẩu cà phê lớn thứ 3 của Việt Nam. Mặc dù khối lượng xuất khẩu sang thị trường này liên tục tăng trưởng, giá trị kim ngạch thu về vẫn chưa tương xứng do cơ cấu sản phẩm xuất khẩu còn nặng về dạng thô (chiếm hơn 99% khối lượng là cà phê nhân sống). Nhằm xác định các biện pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế, đề tài "Xuất khẩu mặt hàng cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý" được tác giả Nguyễn Tăng Hoàng Thúy Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Trần Quốc Trung tại Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II TP. Hồ Chí Minh.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý trong giai đoạn 2008 – 2013 và định hướng cho giai đoạn tiếp theo. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề về xuất khẩu cà phê và tầm quan trọng của thị trường Ý đối với việc xuất khẩu cà phê Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Ý cùng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này trong giai đoạn 2008 – 2013.
  3. Đề ra hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Ý giai đoạn 2014 – 2020.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Ý cùng các nhân tố môi trường vĩ mô, vi mô tại hai quốc gia tác động trực tiếp đến hoạt động thương mại này. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại thị trường Việt Nam và thị trường Ý; phạm vi thời gian tập trung phân tích thực trạng giai đoạn 2008 – 2013 và xây dựng định hướng, giải pháp cho giai đoạn 2014 – 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc kết hợp các khung lý thuyết thương mại quốc tế, quản trị chiến lược và marketing xuất khẩu:

  • Khung phân tích năng lực cạnh tranh: Vận dụng các nhóm yếu tố nền tảng cấu thành lợi thế cạnh tranh (điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; cơ cấu, chiến lược và môi trường cạnh tranh; cùng vai trò điều tiết của Chính phủ) nhằm nhận diện thực trạng ngành cà phê Việt Nam.
  • Khung phân loại ngành hàng cà phê: Sử dụng tiêu chuẩn phân loại của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) phân chia cà phê thành 3 nhóm ban đầu (Mild Arabica, Brazilian Naturals, Robusta) và quy chuẩn thành 2 nhóm thương phẩm chính trong phân tích thị trường là Arabica (cà phê Chè) và Robusta (cà phê Vối).
  • Lý thuyết Marketing xuất khẩu: Áp dụng quy trình nghiên cứu thị trường theo mô hình của Malhotra (1996) kết hợp cấu trúc phối thức Marketing-mix (4P: Sản phẩm, Giá cả, Kênh phân phối, Chiêu thị) để phân tích khả năng thích ứng của doanh nghiệp nội địa với hành vi tiêu dùng tại thị trường nhập khẩu.
  • Khung phân loại biện pháp phi thuế quan: Dẫn chiếu hệ thống 5 nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật thương mại quốc tế theo nghiên cứu của Paul Brenton, John Sheeh và Mary Vancauteren (2000), bao gồm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn môi trường và tiêu chuẩn lao động.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp nghiên cứu tại bàn và khảo sát thực tế:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu thống kê thương mại, chính sách và tiêu chuẩn nhập khẩu từ các tổ chức trong nước và quốc tế gồm: Trung tâm Thương mại Quốc tế (Intracen/ITC), Export Helpdesk của EU, Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), Tổng cục Hải quan Việt Nam và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn.
  • Phương pháp khảo sát sơ cấp: Tác giả tiến hành điều tra khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên tại 30 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê tại Việt Nam nhằm thu thập số liệu về quy mô nguồn vốn, hoạt động nghiên cứu thị trường và năng lực nhân sự.
  • Phương pháp so sánh và phân tích tình huống: Phân tích điển cứu (case study) về kinh nghiệm tái canh, kiểm soát nguồn nguyên liệu thu mua và chính sách thúc đẩy tiêu thụ nội địa của ngành cà phê Indonesia để rút ra bài học đối chiếu cho Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học và sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý

Nội dung chương 1 phân tích tiềm năng thị trường Ý dựa trên các chỉ số kinh tế vĩ mô: diện tích 301.230 km², dân số 59 triệu người, GDP năm 2012 đạt 1.999 tỷ USD (đứng thứ 7 thế giới) và xếp thứ 20 về chỉ số phát triển con người (HDI). Ý là quốc gia có truyền thống tiêu thụ cà phê đậm nét, bình quân 5,8 kg/người/năm (tương đương 600 tách). Trong cơ cấu 10 thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam niên vụ 2011/2012, Ý đứng vị trí thứ 3 với thị phần 9,9%, xếp sau Đức (24,8%) và Hoa Kỳ (24,4%), nhưng đứng trước Tây Ban Nha (8,1%) và Indonesia (8,1%).

Thứ hạng Thị trường nhập khẩu Tỷ trọng (%)
1 Đức 24,8
2 Hoa Kỳ 24,4
3 Ý 9,9
4 Tây Ban Nha 8,1
5 Indonesia 8,1
6 Bỉ 7,4
7 Nhật Bản 5,6
8 Algeria 4,3
9 Mexico 3,8
10 Vương quốc Anh 3,8

Chương này trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu xuất phát từ nội tại Việt Nam: giống cây trồng (chủ yếu là Robusta có hàm lượng caffeine cao, vị đắng gắt, giá thấp hơn Arabica), kỹ thuật tưới nước tầng rễ (0 – 30 cm) giúp tránh lãng phí, phương pháp thu hoạch (tuốt cành lẫn hạt xanh so với hái chọn lọc hạt chín), và 3 phương pháp chế biến (chế biến khô, chế biến ướt, chế biến nửa ướt). Đồng thời, tác giả xem xét các yếu tố tại thị trường Ý gồm biểu thuế nhập khẩu, 5 rào cản phi thuế quan, thị hiếu chuộng Espresso làm từ Arabica và cấu trúc cạnh tranh của các nhà rang xay bản địa.

Sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu sang Ý giai đoạn 2014 – 2020 được tác giả chứng minh qua 4 luận điểm:

  1. Tận dụng điều kiện tự nhiên với gần 2,7 triệu ha đất bazan (Tây Nguyên chiếm 2/3) và nguồn nhân lực nông nghiệp dồi dào với 62 triệu nông dân (chiếm hơn 70% dân số cả nước).
  2. Tạo việc làm và ổn định xã hội, trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 540.000 hộ gia đình tại Tây Nguyên; lao động ngành cà phê chiếm 2,93% tổng lao động nông nghiệp Việt Nam và 1,83% tổng lao động cà phê toàn cầu.
  3. Tạo nguồn thu ngoại tệ lớn: năm 2012 xuất khẩu đạt 1,76 triệu tấn, kim ngạch 3,74 tỷ USD, đóng góp khoảng 2% GDP cả nước.
  4. Nâng cao vị thế quốc tế của cà phê Việt Nam: năm 2012 tổng lượng xuất khẩu đạt 1.088 nghìn tấn (tương đương 3.070 triệu USD); trong 6 tháng đầu năm 2012, Việt Nam xuất khẩu 14.000 bao, vượt mức 12.000 bao của Brazil.

Từ trường hợp của Indonesia – quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ 4 vào Ý với 6% thị phần năm 2012 (đạt 64.638 nghìn USD) – tác giả rút ra 3 bài học cho Việt Nam: chủ động quy hoạch lộ trình tái canh cây già cỗi thay vì chỉ chạy theo sản lượng ngắn hạn; kiểm soát chặt chẽ điều kiện thu mua của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bằng yêu cầu phải đầu tư vùng nguyên liệu trong vòng 3 năm; và triển khai chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa cùng dự trữ lưu kho để giữ giá xuất khẩu khi được mùa.

Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý giai đoạn 2008 – 2013

Chương 2 tập trung đánh giá số liệu thực tế về sản lượng, kim ngạch và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Ý từ năm 2008 đến năm 2012, cùng các số liệu cập nhật năm 2013.

Về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu:

  • Khối lượng xuất khẩu sang Ý tăng từ mức khoảng 89.400 tấn (năm 2008) lên 118.807 tấn (năm 2012), tương đương mức tăng 37% (29.403 tấn). Mức tăng giữa hai năm cao nhất ghi nhận tại niên vụ 2011/2012 với mức tăng 16,8% (15.677 tấn).
  • Kim ngạch xuất khẩu có biến động lớn theo giá thế giới: năm 2008 giá đạt khoảng 2.230 USD/tấn; năm 2009 giảm 13,3% do giá thế giới rơi xuống 1.600 USD/tấn; năm 2010 kim ngạch giảm 5,2%; năm 2011 kim ngạch tăng trưởng 48% nhờ giá đạt gần 2.600 USD/tấn; năm 2012 đạt mức kỷ lục 264.295 nghìn USD (tăng 23,1% so với 2011).
  • Trong 7 tháng đầu năm 2013, kim ngạch sang Ý suy giảm 22% so với cùng kỳ, chỉ đạt 115,8 triệu USD. Nguyên nhân trực tiếp là hơn 30% diện tích gieo trồng bước vào giai đoạn già cỗi trên 20 năm tuổi, cho năng suất kém (dưới 1 tấn/ha), cùng với tình trạng các doanh nghiệp "ma" gian lận chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT) khiến nhiều đơn vị xuất khẩu thiếu vốn và tạm dừng giao dịch.

Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu năm 2012: Số liệu cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng khi xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô chưa qua chế biến.

Mã HS Mô tả sản phẩm Khối lượng (nghìn kg) Tỷ lệ (%) Kim ngạch (nghìn Euro) Tỷ lệ (%)
0901 11 Cà phê nhân sống 118.643,32 99,95 Chưa qua chế biến Chiếm phần lớn
0901 12 Cà phê rang xay 20,00 0,02 39,53 0,02
2101 Cà phê hòa tan, đóng lon 35,70 0,03 164,49 0,08
Tổng cộng 118.847,34 100,00

Đối với phân khúc cà phê có chứng nhận, Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê chứng nhận UTZ lớn thứ 2 thế giới (chiếm 22% thị phần toàn cầu, sau Brazil 38%), tuy nhiên sản lượng này chỉ chiếm khoảng 6% tổng sản lượng của cả nước; sản lượng cà phê đạt chứng nhận 4C đạt 90.000 tấn vào năm 2009.

Về các nhân tố tác động nội tại:

  • Vùng trồng: Cả nước có khoảng 500.000 ha cà phê, sản lượng 1,0 – 1,1 triệu tấn/năm. Đăk Lăk chiếm 33% diện tích và 45% sản lượng cả nước. Diện tích đất có điều kiện sinh thái phù hợp cho giống Arabica (độ cao trên 600m) chỉ đạt tối đa khoảng 35.000 ha (tại Lâm Đồng, Sơn La, Nghệ An, Điện Biên).
  • Doanh nghiệp chế biến và hỗ trợ: Vinacafe Biên Hòa đầu tư nhà máy tại KCN Long Thành (Đồng Nai) với số vốn hơn 500 tỷ đồng, công suất 3.200 tấn cà phê hòa tan/năm; Trung Nguyên đầu tư nhà máy tại Buôn Ma Thuột hơn 40 triệu USD, công suất hơn 60.000 tấn/năm; Công ty Ngon (Ấn Độ) xây dựng nhà máy cà phê hòa tan lớn nhất châu Á tại cụm công nghiệp Cư Kuin (Đăk Lăk) với công suất 10.000 tấn/năm. Mặt khác, các doanh nghiệp gặp áp lực tài chính lớn do mặt bằng lãi suất vay ngân hàng giai đoạn 2011 – 2012 ở mức 20 – 22%/năm.
  • Môi trường cạnh tranh: Thị trường có hơn 200 doanh nghiệp nội địa và 12 doanh nghiệp FDI. Niên vụ 2011/2012, các doanh nghiệp FDI thu mua tới 45% sản lượng cà phê cả nước (Nestlé chiếm 15%, Nedcoffee chiếm 9%; tại Gia Lai, Louis Dreyfus Commodities chiếm hơn 40% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh). Khâu liên kết vùng nguyên liệu của doanh nghiệp nội địa còn yếu, ngoại trừ Công ty Thắng Lợi, Công ty 2/9 Đăk Lăk và Dak Man.
  • Khảo sát 30 doanh nghiệp xuất khẩu của tác giả: 30% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng; 56,7% doanh nghiệp có vốn từ 10 đến 200 tỷ đồng; chỉ 13,3% doanh nghiệp có vốn trên 200 tỷ đồng. Do tiềm lực tài chính mỏng, chỉ có 13,3% doanh nghiệp lớn có khả năng tự thực hiện nghiên cứu thị trường.
  • Bất lợi về giá giao dịch: Do bán theo điều kiện FOB và chất lượng lẫn tạp chất (tiêu chuẩn Việt Nam cho phép tạp chất tới 1% trong khi quốc tế là 0,2%), cà phê Robusta của Việt Nam thường bị các sàn quốc tế trừ lùi từ 50 đến 100 USD/tấn so với giá niêm yết trên sàn Liffe (London).

Về hệ thống phân phối tại Ý: Cấu trúc phân phối trung gian gồm 4 cấp độ:

  1. Nhà môi giới/trung gian: Kết nối bên mua và bán hưởng hoa hồng, không sở hữu hàng hóa (tiêu biểu như Coprocafe-Bero Italia, Depase Aldo, Cattegno Alberto).
  2. Nhà nhập khẩu kinh doanh: Mua trực tiếp hoặc qua môi giới để cung cấp cho các nhà rang xay, tập trung tại hai thành phố cảng Genoa và Trieste (như Sandalj Trading Co. SpA, Imperator Cogeco).
  3. Nhà rang xay: Cực kỳ cô đặc với 5 tập đoàn chiếm 72% thị phần toàn quốc (gồm Lavazza, Kraft, Segafredo, Illycaffe, Café do Brasil); riêng thương hiệu Lavazza chiếm lĩnh 70% thị phần.
  4. Đơn vị bán lẻ và dịch vụ ăn uống: Mạng lưới siêu thị, máy bán hàng tự động và hệ thống quán cà phê phục vụ nhu cầu tiêu thụ 5,8 kg cà phê/người/năm.

Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý giai đoạn 2014 – 2020

Dựa trên thực trạng phân tích, tác giả đề xuất định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu từ số lượng thô sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, kết hợp khai thác các dòng sản phẩm chứng nhận môi trường và thâm nhập chuỗi cung ứng của các nhà rang xay Ý. Các nhóm giải pháp cụ thể được phân bổ ở 2 cấp độ:

Về phía cơ quan quản lý Nhà nước:

  • Hỗ trợ phát triển vùng trồng và giống cây: Tiếp tục nhân rộng các đề án hỗ trợ giống cà phê chè lai mới (TN1, TN2) và giống Catimor tại các vùng sinh thái đặc thù như Kon Tum (Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon Plông) và Điện Biên (Mường Nhé); tài trợ 100% cây giống, phân bón và chuyển giao kỹ thuật chăm sóc cho các hộ dân tham gia.
  • Chuẩn hóa quản lý chất lượng xuất khẩu: Chỉ đạo Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn phối hợp cùng VICOFA nâng cấp quy trình kiểm định chất lượng, áp dụng thủ tục thử nếm bắt buộc theo thông lệ quốc tế; siết chặt tỷ lệ tạp chất xuống mức 0,2% và kiểm soát chặt chỉ số độc tố sinh học Ochratoxin A (OTA).
  • Hỗ trợ tài chính, thuế và tỷ giá: Khơi thông dòng vốn tín dụng ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ Phát triển (thành lập theo Quyết định 195/2000/QĐ-TTg) phục vụ tái canh cà phê; duy trì chính sách ổn định tỷ giá hối đoái với biên độ dao động mục tiêu 2 – 3% nhằm tạo sự chủ động cho doanh nghiệp xuất khẩu; đồng thời xử lý triệt để vướng mắc trong khâu hoàn thuế VAT để phục hồi niềm tin kinh doanh.
  • Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại song phương: Khai thác hiệu quả các chương trình hành động theo Quyết định số 2471/QĐ-TTg và Quyết định 950/QĐ-TTg; thúc đẩy hoạt động của Phòng Thương mại Việt Nam - Italia, Quỹ Italia - Việt Nam và duy trì cơ chế đối thoại qua Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Ý tại Milano.

Về phía các doanh nghiệp xuất khẩu:

  • Tái cấu trúc chuỗi cung ứng: Triển khai mô hình liên kết "4 nhà" (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông, doanh nghiệp) theo Nghị quyết số 26-NQ/TW; chủ động đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tập trung và mở rộng áp dụng các tiêu chuẩn canh tác bền vững (4C, UTZ certified) nhằm đáp ứng nhu cầu cà phê "sạch" tại Ý.
  • Đầu tư công nghệ chế biến sâu: Nâng cao năng lực chế biến ướt tại các vùng nguyên liệu; đẩy mạnh sản xuất các dòng sản phẩm chế biến sẵn có biên lợi nhuận cao như cà phê rang xay cao cấp, cà phê hòa tan và dòng sản phẩm uống liền (RTD).
  • Đổi mới chiến lược giá và marketing quốc tế: Từng bước tiếp cận trực tiếp các nhà rang xay lớn tại Ý (như Lavazza, Illycaffe) thông qua văn phòng đại diện hoặc các hội chợ thương mại quốc tế để cắt giảm chi phí trung gian; áp dụng phương thức bán hàng linh hoạt, giảm thiểu mức trừ lùi chất lượng trên các sàn giao dịch kỳ hạn.
  • Đào tạo nguồn nhân lực: Dành ngân sách đào tạo chuyên sâu nghiệp vụ ngoại thương, thương mại điện tử, pháp luật thương mại quốc tế và kỹ năng phân tích dự báo biến động giá thị trường kỳ hạn London (Liffe).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Lượng hóa chi tiết hiện trạng thương mại cà phê giữa Việt Nam và Ý: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2008 – 2012, ghi nhận khối lượng đạt đỉnh 118.807 tấn và kim ngạch 264.295 nghìn USD (năm 2012), làm rõ vị thế thị trường Ý là khách hàng nhập khẩu lớn thứ 3 của cà phê Việt Nam (chiếm 9,9% tỷ trọng niên vụ 2011/2012).
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn cơ cấu sản phẩm: Minh chứng bằng số liệu cụ thể năm 2012 rằng 99,95% khối lượng xuất khẩu sang Ý là cà phê nhân thô, trong khi cà phê rang xay và hòa tan chỉ chiếm tỷ trọng không đáng kể (lần lượt 0,02% và 0,03%), lý giải nguyên nhân giá trị kim ngạch thu về chưa tương xứng với sản lượng.
  • Cung cấp dữ liệu thực chứng về năng lực nội tại của doanh nghiệp: Kết quả điều tra khảo sát 30 doanh nghiệp chỉ ra rằng 86,7% đơn vị có quy mô vốn vừa và nhỏ (dưới 200 tỷ đồng), trong đó 30% có vốn dưới 10 tỷ đồng, giải thích nguyên nhân các doanh nghiệp nội địa khó tự thực hiện hoạt động nghiên cứu thị trường quốc tế (chỉ 13,3% thực hiện).
  • Phân tích chi tiết chuỗi phân phối đặc thù của thị trường Ý: Xác lập sơ đồ vận hành của 4 nhóm tác nhân tại Ý, vạch rõ mức độ tập trung thị trường rất cao khi 5 tập đoàn rang xay nắm giữ 72% thị phần (Lavazza dẫn đầu với 70%), cung cấp cơ sở để doanh nghiệp định vị kênh tiếp cận phù hợp.
  • Đóng góp giải pháp mang tính khả thi cao: Đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết giữa vĩ mô và vi mô, đồng thời vận dụng thành công các bài học thực tiễn từ Indonesia về chính sách tái canh, quản lý doanh nghiệp FDI thu mua nguyên liệu và điều tiết thị trường nội địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện nghiên cứu:

  • Hạn chế về mẫu khảo sát: Quy mô điều tra thực tế dừng lại ở 30 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê, chưa bao quát toàn diện các hợp tác xã và hộ nông dân sản xuất trực tiếp tại các vùng chuyên canh lớn.
  • Hạn chế về độ trễ dữ liệu: Do thời điểm hoàn thành khóa luận vào cuối năm 2013, số liệu năm 2013 mới chỉ dừng ở mức thống kê sơ bộ 7 tháng đầu năm, chưa phản ánh đầy đủ tác động cả năm của biến động giá và tình hình tái canh.
  • Hạn chế trong tiếp cận dữ liệu thị trường sở tại: Do khoảng cách địa lý và kinh phí nghiên cứu, các dữ liệu về chi phí logistics nội địa và mức chiết khấu cụ thể trong từng kênh phân phối tại Ý chủ yếu dựa trên số liệu thứ cấp và báo cáo ngành.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Mở rộng quy mô điều tra thực nghiệm với cỡ mẫu lớn hơn, phân tầng theo từng loại hình sở hữu doanh nghiệp và hộ canh tác tại Tây Nguyên.
  • Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường độ co giãn của cầu tiêu thụ cà phê tại thị trường Ý theo giá và thu nhập.
  • Nghiên cứu tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giữa Việt Nam và EU đối với lộ trình cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan của mặt hàng cà phê chế biến sâu.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại và Quản trị kinh doanh: Cung cấp phương pháp luận phân tích thị trường xuất khẩu ngành hàng nông sản, cách tiếp cận hệ thống phân phối quốc tế và phương pháp thiết kế phối thức Marketing-mix thâm nhập thị trường ngách.
  • Các doanh nghiệp kinh doanh và xuất khẩu cà phê: Cung cấp thông tin giá trị về cấu trúc trung gian phân phối tại Ý (danh tính các nhà nhập khẩu tại Genoa, Trieste và các nhà rang xay chi phối thị trường), hiểu rõ các tiêu chuẩn kỹ thuật nhập khẩu để giảm trừ lùi giá trên sàn giao dịch.
  • Cơ quan xúc tiến thương mại và Hiệp hội ngành hàng (VICOFA): Cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm sang thị trường châu Âu, định hình chính sách hỗ trợ phát triển chỉ dẫn địa lý và các dòng sản phẩm cà phê có chứng nhận bền vững.

Nội dung đáng tham khảo nhất trong khóa luận là hệ thống bảng biểu phân tích cơ cấu mặt hàng xuất khẩu năm 2012, dữ liệu khảo sát quy mô vốn của 30 doanh nghiệp xuất khẩu, cùng sơ đồ và phân tích chi tiết kênh phân phối cà phê tại Ý.

Câu hỏi thường gặp

1. Thị trường Ý giữ vị trí như thế nào trong cơ cấu xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn nghiên cứu? Theo số liệu thống kê niên vụ 2011/2012 được tổng hợp từ VICOFA và Tổng cục Hải quan, Ý là thị trường nhập khẩu cà phê lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 9,9% trong cơ cấu 10 thị trường lớn nhất, đứng sau Đức (24,8%) và Hoa Kỳ (24,4%).

2. Cơ cấu sản phẩm cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Ý năm 2012 có đặc điểm gì nổi bật? Cơ cấu mặt hàng có sự mất cân đối tuyệt đối: Cà phê nhân sống (mã HS 0901 11) chiếm 118.643,32 tấn, tương đương 99,95% tổng khối lượng xuất khẩu. Trong khi đó, cà phê rang xay (mã HS 0901 12) chỉ chiếm 20 tấn (0,02%) và cà phê hòa tan, đóng lon (mã HS 2101) chỉ chiếm 35,7 tấn (0,03%).

3. Những nguyên nhân chính nào khiến kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Ý trong 7 tháng đầu năm 2013 giảm 22%? Có 3 nguyên nhân chính được tác giả phân tích: (1) Hơn 30% diện tích gieo trồng bước sang giai đoạn già cỗi trên 20 năm tuổi, cho năng suất thấp (dưới 1 tấn/ha) và chất lượng kém; (2) Việt Nam chủ yếu xuất khẩu hạt Robusta trong khi người tiêu dùng Ý ưa chuộng Arabica; (3) Tác động tiêu cực từ các doanh nghiệp "ma" gian lận hóa đơn VAT khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu bị ách tắc hoàn thuế, dẫn đến thiếu hụt vốn lưu động và phải ngừng giao dịch.

4. Cấu trúc kênh phân phối cà phê tại thị trường Ý được phân chia như thế nào? Hệ thống phân phối tại Ý gồm 4 cấp độ liên kết chặt chẽ: (1) Nhà trung gian môi giới (như Coprocafe-Bero Italia, Depase Aldo); (2) Nhà nhập khẩu kinh doanh tập trung tại hai thành phố Genoa và Trieste (như Sandalj Trading Co. SpA); (3) Các tập đoàn rang xay với 5 công ty chiếm 72% thị phần (Lavazza chiếm 70%, cùng Kraft, Segafredo, Illycaffe, Café do Brasil); (4) Mạng lưới phân phối bán lẻ tại siêu thị và các quán ăn uống phục vụ trực tiếp người tiêu dùng.

5. Khóa luận rút ra bài học kinh nghiệm gì từ ngành cà phê Indonesia cho Việt Nam? Việt Nam cần học hỏi Indonesia ở 3 điểm: chủ động triển khai kế hoạch tái canh cây già cỗi bài bản; ban hành quy định buộc các doanh nghiệp nước ngoài muốn kinh doanh thu mua cà phê phải đầu tư vùng nguyên liệu trong vòng 3 năm; và thực hiện chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa cùng dự trữ lưu kho để giữ giá xuất khẩu khi sản lượng tăng cao, tránh bán tháo làm sụt giảm giá trị ngành hàng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tăng Hoàng Thúy Linh đã hệ thống hóa và làm rõ thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý trong giai đoạn 2008 – 2013, chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi nằm ở cơ cấu sản phẩm thuần túy thô và năng lực tài chính mỏng của doanh nghiệp nội địa. Thông qua việc phân tích sâu các rào cản kỹ thuật và mạng lưới phân phối tập trung tại Ý, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2014 – 2020 nhằm thúc đẩy tái canh giống chất lượng cao, phát triển cà phê chứng nhận bền vững và thâm nhập chuỗi giá trị chế biến sâu. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với hoạt động đào tạo, hoạch định chính sách thương mại và xây dựng chiến lược kinh doanh xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu.