Chương 1: Cơ sở khoa học và sự cần thiết đẩy mạnh xuất cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý. Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý giai đoạn 2008 – 2013. 2008-2015 Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Ý giai đoạn 2014 – 2020. 2016-2020 Trong quá trình học tập và tìm hiểu để thực hiện khóa luận này, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ vô cùng quý báu.Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý Thầy – Cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Trần Quốc Trung đã tận tình hướng dẫn, đưa ra những phân tích và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Do sự hạn chế về thời gian chuẩn bị và năng lực chuyên môn nên khóa luận này không thể tránh khỏi thiếu sót; tác giả rất mong nhận được những ý kiến của quý thầy cô giáo và người đọc để khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn. Sinh viên thực hiện Nguyễn Tăng Hoàng Thúy Linh 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẦY MẠNH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG Ý 1. Tiềm năng và vai trò của thị trƣờng Ý đối với cà phê Việt Nam 1.
Tiềm năng của thị trƣờng Ý Ý là một quốc gia nằm ở Bán đảo Ý phía Nam Châu Âu, và trên hai hòn đảo lớn nhất tại Địa Trung Hải, Sicilia vàSardegna, diện tích khoảng 301.230 km2 với dân số là 59. Ý là một quốc gia phát triển theo nền cộng hoà dân chủ với GDP đứng hàng thứ 7 đạt mức 1.999 tỷ USD năm 2012 và thứ 20 về chỉ số phát triển con người của thế giới. Nước này là một trong những thành viên sáng lập của tổ chức tiền thân Liên minh Châu Âu ngày nay. Ý được biết đến là một thị trường nhập khẩu truyền thống của Việt về mặt hàng cà phê, g dệt may, điện thoại các loại linh kiện, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng,… Theo số liệu thống kê, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Ý trong 6 tháng đầu năm 2013 đạt 1.620 USD, tăng 29,0% so với cùng kỳ năm 2012.
Tính riêng trong tháng 6/2013, các mặt hàng xuất khẩu vào thị trường Ý đạt trị giá 242.826 USD, tăng 1,9% so với tháng 5/2013. Nhắc đến văn hóa ẩm thực của người Ý, người ta nghĩ ngay đến cà phê. Đây là quốc gia nhập khẩu cà phê lớn thứ 6 trên thế giới và trong đó Việt Nam là nhà xuất khẩu lớn thứ 2 sang thị trường này. Cà phê đối với người Ý là thói quen trong sinh hoạt hàng ngày và thưởng thức cà phê với họ là một nhu cầu không thể thiếu.
Điều đó đã lý giải được tại sao trong giai đoạn từ sau năm 2008 thì sản lượng cà phê nhập khẩu vào Ý ngày càng gia tăng với tốc độ lớn và thị trường này hứa hẹn là một bạn hàng tiềm năng cho mặt hàng xuất khẩu cà phê của Việt Nam. Đặc biệt Ý sẽ giữ một vị trí quan trọng trong việc gia tăng thị trường xuất khẩu mặt hàng này và mở ra con đường phát triển lâu dài cho những doanh nghiệp Việt Nam. Vai trò của Ý trong cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu cà phê Việt Nam Ý là thị trường nhập khẩu cà phê lớn thứ 3 của Việt Nam tính đến niên vụ 2011/2012 và xu hướng này tiếp tục gia tăng trên cơ sở dự đoán về nhu cầu tiêu dùng cà phê của người Ý. Bên cạnh đó, Ý đóng góp một tỷ lệ không nhỏ vào cơ cấu thị trường xuất khẩu cà phê xét về khối lượng nhập khẩu và là một trong những thị 4 trường chính mà nước ta hướng đến trong chiến lược đa dạng hóa thị trường nhập khẩu mặt hàng này.1: Cơ cấu 10 thị trƣờng lớn nhất nhập khẩu cà phê Việt Nam niên vụ 2011/2012 Đơn vị: % 3,8 3,8 4,3 Đức Mỹ 5,6 24,8 Ý Tây Ban Nha 8,1 Indonesia Nhật Bản 7,4 8,1 24,4 Bỉ Algeria 9,9 Mexico Anh Nguồn: Tự tổng hợp từ số liệu của Vicofa và Tổng cục Hải quan Việt Nam Biểu đồ 1.1 cho 10 trong tổng số thấy hơn 75 nước nhập khẩu cà phê lớn từ Việt Nam và kim ngạch của Ý đạt 9,9%.
Đó là một con số khả quancho thấy mức tăng trưởng nhập khẩu ở thị trường này là khá mạnh, đặc biệt là từ sau khủng hoảng kinh tế thế giới. Khi Việt Nam muốn phát triển kinh tế đất nước bằng con đường xuất khẩu bền vững thì tăng cường nâng cao chất lượng sản phẩm cần đi kèm với đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu xuất khẩu ổn định cho các hoạt động đầu tư sinh lợi. Bởi vì đó là một trong những chiến lược hiệu quả để hạn chế rủi ro, phụ thuộc vào bạn hàng nhập khẩu cũng như giúp ta chủ động hơn về giá thông qua mở rộng mạng lưới khách hàng. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trƣờng Ý 1.
Các yếu tố từ phía Việt Nam 1. Năng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu cà phê Việt Nam Điều kiện các yếu tố sản xuất - Giống cà phê chính và phân bố vùng trồng Có nhiều cách phân loại cà phê khác nhau nhưng căn cứ vào vùng trồng thì Tổ chức Cà phê thế giới ICO phân loại cà phê được thành 3 nhóm chính là: Mild Arabica (bao gồm Colombia Mild và Other Mild), Brazilian Naturals và Robusta.1: Phân biệt ba nhóm cà phê chính Mild Arabica Brazilian Naturals Robusta Colombia, Kenya, Trung và Nam Mỹ, Đông Việt Nam, Khu Tanzania (Colombia Phi ( Kenya, Cameroon, Brazil, vực Mild) và Guatemala, Ethiopia, Tanzania) và Indonesia và trồng Mexico, Ấn Độ (Other châu Á (Indonesia, Ấn Bờ Biển Ngà Mild) Độ, Philippines) Hàm Cao nhất (Giá lƣợng Thấp (Giá cao) Cao hơn (Giá cao) thấp nhất) caffeine Thơm nhẹ và được ưa Vị đắng, chua Hƣơng Đậm đà hơn và ít được chuộng ở Châu Âu và thế và ít người vị dùng hơn giới dùng Nguồn: Tự tổng hợp Do nhóm Mild Columbia, Other Mild và Brazilian Naturalscó những đặc điểm tương đồng về chất lượng, giá trị và tập quán mua bán nên các bài phân tích thị trường cà phê thế giới hiện nay đã quyết định gộp chung 3 nhóm này và gọi chung là cà phê Arabica. Do đó, tác giả cũng sẽ hướng bài phân tích theo hai nhóm chính là Arabica (cà phê Chè) và Robusta (cà phê Vối) (Huỳnh Trung Hiếu, 2010). - Ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất cà phê Khoa học kĩ thuật đóng một vai trò vô cùng to lớn trong việc nhân giống cây cà phê, hiện đại hóa phương pháp gieo hạt cũng như tưới tiêu để mang lại hiệu quả kinh tế tốt nhất.
Bằng việc nhân giống, cây cà phê có năng suất cao, kháng bệnh tốt, cho kích cỡ nhân lớn, chất lượng cao, gia tăng xuất khẩu sang các thị trường có yêu cầu tiêu chuẩn cao như Ý. Bên cạnh đó, một vấn đề cốt lõi khác quyết định chất lượng cà phê là khâu tưới nước. Tưới nước hợp lý, tiết kiệm là cần phải xác định cho đúng thời điểm tưới nước lần đầu của vụ tưới để bố trí lịch tưới cho thích hợp vì tưới quá sớm vừa gây lãng phí, vừa làm đảo lộn quá trình sinh trưởng, ra hoa, đậu quả kém và tưới quá muộn làm cho cây cà phê khó phục hồi trạng thái khô héo để phát triển bình thường, thậm chí không hồi phục được. Áp dụng khoa học kĩ thuật vào có thể xác định nên tưới rễ ở tầng đất mặt (từ 0 đến 30cm) thay vì tưới phun 6 mưa và tưới gốc với khối lượng rất caodễ gây ra lãng phí và úng giống.
Chính nhờ áp dụng những tiến bộ của khoa học mà người nông dân trồng cà phê có thể cải tiến năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng kim ngạch xuất khẩu. - Điều kiện tự nhiên Ngoài các yếu tố về giống cây cà phê, các yếu tố tự nhiên như độ cao so với mực nước biển, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm, khí hậu, nhiệt độ, điều kiện thổ nhưỡng,… đều có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cà phê. Cà phê cần phải được trồng ở một số khu vực địa lý nhất định có những đặc điểm tự nhiên phù hợp nhất thì mới có chất lượng đặc biệt tốt và được bán với giá cao hơn trên thị trường thế giới. Một số khu vực nổi tiếng về chất lượng cà phê như vùng Blue Mountain tại Jamaica, vùng Hawai Koni hay Huehuetenango thuộc Guatemala.
Điều kiện về cầu Cầu là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sang mua tại những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định và điều kiện cầuphản ảnh các yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, công dụng,… của sản phẩm để thúc đẩy người mua nhanh chóng đi đến quyết định mua. Chính điều này sẽ đặt áp lực lên các doanh nghiệp buộc họ phải đầu tư đáp ứng các đặc điểm nhu cầu của khách hàng và một khi thành công tức là họ đã xây dựng được lợi thế cạnh tranh riêng cho chính doanh nghiệp của mình. Điều kiện cầu nội địa càng khắt khe mà bản thân các doanh nghiệp trong ngành đáp ứng được thì chắc chắn họ có thể làm hài lòng người tiêu dùng khó tính ở các thị trường nhập khẩu khác và tăng nhanh khối lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu. Ngược lại, nếu các doanh nghiệp không thể nắm bắt các điều kiện cầu nội địa và xem đó là động lực để phát triển thì có nghĩa rằng các doanh nghiệp này không thể thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và đây sẽ là rào cản không hề nhỏ để có thể thâm nhập thị trường các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia phát triển.
Do đó, các doanh nghiệp cần đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để có thể đi tắt đón đầu xu thế, tăng tiêu dùng nội địa và làm bước đệm để thâm nhập thị trường thế giới. Các ngành hỗ trợ và có liên quan Mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ có những ngành hỗ trợ và có liên quan khác nhau để bổ trợ và thúc đẩy cho quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng sao cho mang 7 lại một lợi nhuận tốt nhất cho doanh nghiệp.Đối với ngành xuất khẩu, các bên hữu quan bao gồm ngân hàng cung cấp vốn; các cơ sở gia công, đóng gói bao bì và các hiệp hội hỗ trợ ngành nghề.