Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài - Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê 11 - Chương 3: Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU. - Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ 2. Tổng quan về mặt hàng cà phê 2.
Đặc điểm mặt hàng cà phê 2. Lịch sử ra đời Cà phê là một loại thức uống được chế biến từ hạt cà phê rang, lấy từ quả của cây cà phê. Các giống cây cà phê được bắt nguồn từ vùng nhiệt đới Châu Phi và các vùng Madagascar, Comoros, Mauritius và Réunion trên các khu vực thuộc đường xích đạo. Sau đó, được xuất khẩu tới các nước trên thế giới và hiện nay đã được trồng tại tổng cộng hơn 70 quốc gia, chủ yếu là các khu vực nằm gần đường xích đạo thuộc Châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ và Châu Phi.
Ở Việt Nam, cà phê được người Pháp mang sang từ những năm 1850. Đến đầu những năm 1900, giống cây cà phê chè (hay Arabica) đã được trồng ở các tỉnh phía Bắc như Lạng Sơn, Tuyên Quang, Ninh Bình sau đó lan xuống một vài tỉnh miền Trung như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị. Sau này, xuất hiện thêm nhiều vườn trồng giống cà phê Mít (Coffea liberica). Và trong khoảng thời gian lâu sau đó, những người Pháp mới bắt đầu trồng các vườn cà phê ở khu vực Tây Nguyên ngày nay.
Cấu tạo của cà phê Về cấu tạo, quả cà phê gồm: Lớp vỏ quả, thịt quả, lớp nhầy, lớp vỏ trấu, lớp vỏ lụa và nhân quả. Có thể chia làm hai phần chính bao gồm: *Phần vỏ quả gồm 2 lớp − Lớp vỏ quả: Vỏ quả được hình thành bởi một lớp tế bào nhu mô nhỏ. Màu sắc của vỏ quả khi bắt đầu hình thành có màu xanh lá cây do sự hiện diện của lục lạp sau đó biến mất khi quả chín. Màu sắc khi trưởng thành còn phụ thuộc vào từng giống cà phê, nhưng phổ biến nhất là màu đỏ hoặc màu vàng.
− Lớp vỏ thịt: Ở những quả cà phê chưa chín, lớp vỏ thịt chính là các mô cứng gắn liền với vỏ quả và khi quả cà phê chín, các enzym proteolytic sẽ phá vỡ các chuỗi pectin tạo nên các hợp chất đường. Lúc này chuỗi pectin sẽ làm nên một cấu trúc mềm, mọng nước và có độ nhớt cao nên thường được gọi là chất nhầy. *Phần hạt gồm − Lớp vỏ trấu: là lớp ngoài cùng của phần hạt, phần này tiếp xúc trực tiếp với vỏ quả. Lớp vỏ trấu được hình thành từ ba đến bảy lớp tế bào xơ cứng.
Các tế bào cấu thành của vỏ trấu sẽ cứng dần trong quá trình quả cà phê chín và gây ra sự hạn chế về kích thước cuối cùng của hạt nhân cà phê. 13 − Lớp vỏ lụa của quả cà phê được hình thành từ nucleolus có màu trắng bạc khi phơi khô nên còn được gọi là lớp vỏ bạc. Lớp vỏ này rất mỏng nên có thể được bóc tách ra khỏi nhân trong quá trình đánh bóng hạt. Tuy nhiên, nhiều nhà chế biến cà phê thường để lại lớp vỏ lụa trên hạt cà phê giúp bảo vệ cà phê, sau cùng lớp vỏ lụa này cũng sẽ tự hủy khi rang xay cà phê.
− Nhân cà phê: Phần trong cùng và quan trọng nhất của quả cà phê và chịu trách nhiệm trích lũy chất dinh dưỡng cho quá trình nảy mầm của phôi thai được gọi là nhân cà phê. Một quả cà phê thông thường sẽ tồn tại 2 nhân. Thành phần hóa học của nhân cà phê được xem là rất quan trọng bởi nó tác động trực tiếp đến hương vị và mùi thơm của cà phê trong quá trình rang. Thành phần cà phê Tùy theo giống cà phê và phụ thuộc vào điều kiện canh tác mà những thành phần hoá học có sẽ bị thay đổi.
Tuy nhiên, nhìn chung, cà phê chứa những nhóm chất hữu cơ và nhóm chất khoáng-hương: *Nhóm chất hữu cơ − Nước: Nước là một trong những thành phần không thể thiếu của quả cà phê tươi. Tuy nhiên, chính thành phần này sẽ tạo điều kiện cho các loại nấm mốc phát triển và làm làm thất thoát hương liệu trong quá trình rang. Vì vậy, thông qua các phương pháp sơ chế, hàm lượng nước giảm xuống 10 -12% cà phê sẽ được bảo quản lâu hơn. Hàm lượng nước sau khi rang còn khoảng 2 -3%.
− Các loại Carbohydrate: Chiếm ½ tổng số chất khô, đây là thành phần khiến cho cà phê khi pha chế có màu và vị caramel. Đường có trong cà phê do quá trình thủy phân dưới tác dụng của axit hữu cơ và các enzim thủy phân. Đường bị caramel hóa trong quá trình rang tạo thành hương vị cho nước cà phê. − Protein trong cà phê: Tuy hàm lượng Protein không cao nhưng đóng vai trò giúp hình thành hương vị của cà phê trong quá trình rang.
Protein sẽ tác động với các loại đường trong cà phê thông qua phản ứng Maillard. Trong thành phần của Protein có những axit amin chính như: cysteine, alanine, phenylalanine, histidine, leucine, lysine, derine. Các axit amin này được giải phóng ra và tác dụng với nhau hoặc tác dụng với những chất tạo mùi và vị cho cà phê rang. Đáng chú ý nhất là những axit amin có chứa lưu huỳnh như cystein, methionine và proline… chúng góp phần tạo hương đặc trưng của cà phê sau khi rang.
Đặc biệt, methionine và proline có tác dụng làm giảm oxy hóa các chất thơm, làm cho cà phê rang giữ được mùi vị khi bảo quản. 14 − Các axit hữu cơ: Thành phần axit trong cà phê bao gồm một tập hợp khoảng hơn 30 loại axit hữu khác nhau, với một số loại axit quan trọng như: Axit Axetic, axit Citric, axit Chlorogenic, axit Photphoric… Các axit hữu cơ này góp phần tạo nên đặc tính Acidity (độ chua) của cà phê. − Lipid: Đóng một vai trò quan trọng trong chất lượng tách cà phê bởi nó chủ yếu bao gồm triacylglycerol, sterol và tocopherols giúp ích trong việc lưu giữ mùi hương. *Nhóm chất hương - chất khoáng − Các Alkaloid: Trong cà phê có các nhiều Alcaloid như: caffeine, trigonulin, colin.
Trong đó, quan trọng và được nghiên cứu nhiều hơn cả là Caffeine và Trigonelline. Trong quả cà phê, Caffeine chỉ đóng góp khoảng 10% vào vị đắng của cà phê, phần nhiều còn lại là do Trigonelline gây ra. − Chất thơm: Chất thơm được hình thành và tích luỹ trong hạt với một lượng nhỏ. Sự hình thành chất này phụ thuộc vào yếu tố khí hậu, đất đai và chủng loại cà phê.
Vì vậy, các loại cà phê trồng càng cao, phẩm chất hạt càng tốt. − Chất khoáng: Chỉ từ khoảng 3-5% chủ yếu là Kali, Nito, Magie, Photpho, Clo. Ngoài ra còn có các chất nhôm, sắt, đồng, lưu huỳnh…Những chất này ảnh hưởng không tốt đến mùi hương cà phê. Chất lượng cà phê càng cao thì khoáng chất càng thấp và ngược lại.
Chế biến cà phê Cà phê sau khi được thu hoạch có thể được chế biến theo các phương pháp sau: - Chế biến khô: Cà phê chín sau khi được thu hái, loại bỏ các vật như lá và cành cà phê lẫn vào, mang về sân phơi mà không xay xát tươi. Cà phê để nguyên trái phơi đến khi độ ẩm còn khoảng 12-13%, thời gian phơi từ 20-25 ngày tùy theo nhiệt độ ngoài trời. Sau khi phơi khô, quả cà phê khô sẽ xay xát loại bỏ luôn cả lớp vỏ thóc và cho ra hạt cà phê nhân. - Chế biến ướt: Đòi hỏi có những máy móc chuyên dụng vì phương pháp này khá phức tạp.
Đặc điểm chính của phương pháp này là lớp vỏ và thịt trái sẽ bị loại bỏ trước khi cà phê được sấy khô. Cà phê sau thu hái có lẫn nhiều tạp chất do đó việc sơ chế rất cần thiết, càng thực hiện sớm càng tốt để đảm bảo chất lượng của lô cà phê thu hoạch. Công đoạn này cà phê được rửa sạch trong bể chế nước chảy sau đó được đưa đến máy rung sàng để phân loại quả chín với quả xanh, quả to với quả nhỏ. Sau khi đã được sàng lọc cẩn thận, cà phê cần được đưa sang máy xay xát ngay để tránh làm ảnh hưởng chất lượng.
Giai đoạn này lớp vỏ, thịt trái và lớp nhớt được tách ra, cà phê được làm sạch. Lớp thịt trái, lớp nhớt sau khi xử lý bằng máy xay xát còn sót lại trên lớp vỏ thóc sẽ được xử lý sạch hoàn toàn 15 bằng quá trình lên men. Thông thường cà phê xay xát xong được bỏ vào các thùng nước lớn. Hạt cà phê thóc được lên men bằng enzym tự nhiên hoặc có thể bổ sung thêm chế phẩm enzyme.
Quá trình này kéo dài từ 24-36h phụ thuộc vào độ dày của lớp chất nhớt và nồng độ enzyme. Sau quá trình này, lớp nhớt sẽ bị mất cấu trúc và dễ dàng bị rửa sạch bởi nước. Sau quá trình lên men, hạt cà phê có độ ẩm khoảng 46 - 47% sẽ được làm khô đến độ ẩm 12,5%. Quá trình này có thể thực hiện bởi máy sấy khô, hoặc phơi cà phê thóc ngoài trời khoảng 8-10 ngày tùy vào nhiệt độ và ánh sáng.
Sau cùng là bảo quản cẩn thận để giữ phẩm chất của hạt cà phê. - Chế biến bán ướt (Honey): Chế biến theo phương pháp này đòi hỏi kỹ thuật cao. Đặc điểm chính của phương pháp này lựa chọn cà phê chín 100% để chế biến. Lúc này, lượng đường trong quả cà phê đạt cao nhất, chất lượng cà phê cao nhất mới chế biến.
Cà phê chín được đưa vào máy xay xát, sau khi được xay xát hạt cà phê vẫn còn dính chất nhầy được đưa lên các khung dàn phơi nắng tự nhiên, các dàn này cách mặt đất một khoảng nhất định. Thường thì sẽ phơi khoảng 12 ngày và độ ẩm cà phê sau phơi là 12%. Phân loại cà phê *Phân loại theo các loại hạt - Hạt Cà phê Arabica: Hay còn gọi là cà phê chè, là loại cà phê hạt hơi dài, vị của Arabica hơi chua xen lẫn với vị đắng nhẹ, màu nước nâu nhạt; được trồng ở độ cao trên 600m, thích hợp với khí hậu mát mẻ, chỉ trồng chủ yếu ở Brazil và chiếm 2/3 lượng cà phê hiện nay trên thế giới. Quả cà phê Arabica được lên men sau thu hoạch (ngâm nước cho nở…) sau đó rửa sạch rồi sấy khô.
- Hạt Cà phê Robusta: Còn gọi là cà phê Vối, có hàm lượng caffeine từ 2 – 4 %.