Chương 1. Cơ sở lý luận về khả năng trả nợ vay ngân hàng của hộ gia đình Chương 2. Phân tích các nhân tố tác động đến khả năng trả nợ vay của hộ gia đình tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam khu vực thành phố Hồ Chí Minh Chương 3. Giải pháp tăng khả năng trả nợ vay của hộ gia đình tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam khu vực Thành phố Hồ Chí Minh 4 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH 1. Khả năng trả nợ của hộ gia đình 1. Khái niệm hộ gia đình HGĐ tồn tại hầu hết các nước trên thế giới. HGĐ đã tồn tại qua nhiều phương thức, vẫn đang tiếp tục phát triển với nhiều quan niệm khác nhau về HGĐ.
Trong từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người chung huyết tộc và người làm công. (2003), định nghĩa HGĐ được hiểu là household. Household nghĩa là HGĐ bao gồm một hay nhiều người sống trong cùng một mái nhà, các thành viên có cùng chung huyết thống hoặc có cùng mối quan hệ với pháp luật, cùng nhau sản xuất kinh doanh. HGĐ là một người hoặc một nhóm người hoặc nhóm người có cùng huyết thống hoặc không, sống chung trong một gia đình, cùng lao động mang lại nguồn thu nhập (Isaac Dambula and Ephraim N.
Hộ là một nhóm người có chung huyết thống hoặc không cùng chung huyết thống ở trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ (Vũ Hồng Quang, 2008). Tại Việt Nam, bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “HGĐ mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong gia đình nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực gia đình, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.” Có nhiều định nghĩa khác nhau về HGĐ nhưng đều có hai điểm chung: một là, các thành viên có chung tài sản, hai là, cùng góp sức để hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. 5 Trong phạm vi bài viết này, tác giả định nghĩa HGĐ là một nhóm người cùng góp sức, tài sản cùng sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Đặc điểm hộ gia đình - Về vốn: Nguồn vốn của HGĐ chủ yếu là nguồn vốn tự có do các thành viên của HGĐ đóng góp.
Để có nguồn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh chủ yếu từ nguồn tự có và vay, mượn bạn bè, người thân hay từ các tổ chức tài chính và phi tài chính trong xã hội. Việc tự huy động vốn của HGĐ để đầu tư và phát triển sản xuất là rất khó khăn do HGĐ chỉ có thể huy động vốn từ các kênh: vốn tự có và vay mượn. Số lượng thành viên HGĐ thường cố định, ít biến đổi nên nguồn vốn tự có của HGĐ được xác định trước, ít có biến đổi bất thường trừ trường hợp thành viên HGĐ được nhận tài sản thừa kế mà được thỏa thuận là tài sản chung của hộ. HGĐ thông thường sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, không có phương án kinh doanh cụ thể như doanh nghiệp nên khả năng tiếp cận nguồn vốn vay của HGĐ rất khó khăn do phải có phương án kinh doanh cụ thể, khả thi mới được NH chấp nhận cho vay vốn.
HGĐ phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của HGĐ xác lập, thực hiện nhân danh HGĐ. HGĐ chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Tài sản chung của HGĐ do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập nên hoặc được tăng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ. - Về lao động Lao động của HGĐ chính là các thành viên của HGĐ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm bản thân, thường không thuê đội ngũ người lao động có trình độ tay nghề thành thạo.
Bên cạnh đó, do tính chất lao động của HGĐ là các thành viên trong HGĐ tự góp vốn và sức lao động để cùng nhau sản xuất nên trình độ quản lý còn hạn 6 chế, thiếu tính chuyên nghiệp do chủ hộ vừa là người quản lý vừa là người trực tiếp tham gia vào quá trình gia đình, còn mang nhiều “tính gia đình trị”. Lao động HGĐ tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa công việc và thời gian của từng thành viên HGĐ, việc phân công này không mang tính bắt buộc, các thành viên trong HGĐ có thể linh hoạt hoán chuyển cho nhau. Chưa có sự tách bạch rõ ràng về công việc, nhiệm vụ giữa các thành viên. Người quản lý vừa là chủ hộ thiếu kiến thức về kinh tế, xã hội, nắm bắt những thay đổi của thị trường còn chậm, quản lý chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu kiến thức.
Lao động HGĐ thông thường không qua đào tạo, chỉ dựa vào kinh nghiệm của bản thân và truyền đạt trực tiếp từ người đi trước, người lao động sẽ phản ứng chậm trước những sự cố bất thường xảy ra trong quá trình sản xuất, ít có cải tiến trong quá trình sản xuất. Lao động HGĐ ở Việt Nam chính là các thành viên của HGĐ, thông thường không qua đào tạo, làm việc dựa vào kinh nghiệm được truyền đạt từ người đi trước và đúc kết kinh nghiệm của bản thân. Như vậy, ta thấy rằng đặc trưng cơ bản của HGĐ là sự tự nguyện của từng thành viên, trong đó mỗi thành viên vừa là chủ thể gia đình, vừa là người lao động trực tiếp, quá trình lao động dựa vào lao động của HGĐ. - Về quy mô Quy mô gia đình của HGĐ chủ yếu là quy mô nhỏ, do điều kiện về nguồn, khả năng quản lý, sức cạnh tranh trên thị trường… nên HGĐ rất khó mở rộng quy mô.
Thông thường quy mô của HGĐ phụ thuộc vào chu kỳ sống của gia đình. HGĐ thường có quy mô nhỏ ở giai đoạn hình thành mối quan hệ (hôn nhân,…) và sau đó quy mô của HGĐ sẽ mở rộng hơn với sự xuất hiện của những thành viên mới trong gia đình (trẻ em,…). Theo kết quả điều tra của Tổng cục điều tra dân số và nhà ở tại Việt Nam (2014), quy mô HGĐ tại Việt Nam chủ yếu từ 2-4 người, chiếm tỷ trọng 72%, trong đó tỷ trọng này tại khu vực thành thị chiếm 76%. - Về khả năng tiếp cận thông tin thị trƣờng 7 Một trong những yếu tố làm cho khả năng cạnh tranh của HGĐ bị hạn chế là tình trạng thiếu thông tin thị trường về sản phẩm, thị trường công nghệ, máy móc thiết bị nên sự cải tiến về phương thức gia đình cũng như sản phẩm chưa thích ứng kịp với sự thay đổi của thị trường.
Mặt khác, HGĐ thường không kịp thời cập nhật, nắm bắt những biến động của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội nên HGĐ thường phản ứng chậm trước sự biến động của thị trường. - Về ngành nghề hộ gia đình HGĐ hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành nghề: nông – lâm – ngư – diêm nghiệp – dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp. Gắn với mỗi ngành nghề sẽ chịu những tác động khác nhau từ môi trường bên ngoài từ đó tác động đến khả năng trả nợ vay của HGĐ. HGĐ tại Việt Nam sản xuất kinh doanh ở hầu hết các ngành nghề: nông nghiệp, dịch vụ, bán buôn… Tuy hiện tại tỷ trọng HGĐ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, điều này thể hiện ở sự giảm xuống khá nhanh cả về số lượng và tỷ trọng của nhóm HGĐ nông – lâm- thủy sản và sự tăng lên của nhóm HGĐ công nghiệp – xây dựng, dịch vụ (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013).
Vai trò của hộ gia đình Là đơn vị kinh tế độc lập, HGĐ hoàn toàn làm chủ các tư liệu sản xuất. Chính vì vậy HGĐ có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất. Những vai trò quan trọng của HGĐ được tổng hợp cụ thể như sau: 1. Đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế Với ưu thế số lượng nhiều và phân bố rộng khắp trong các ngành, lĩnh vực và địa phương nên HGĐ đóng góp lớn vào GDP và tăng trưởng kinh tế.
HGĐ, bằng quá trình sản xuất kinh doanh của mình đã cung cấp một khối lượng lớn hàng hóa cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, HGĐ còn là đơn vị tiêu thụ hàng hóa dịch vụ, là một thị trường lớn của nền kinh tế, giải quyết đầu ra cho quá trình sản xuất, làm cho quá trình tái sản xuất được thông suốt. 8 Theo Ducan Ironmonger (2000), HGĐ tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Đất đai, tài nguyên và các công cụ lao động cũng được giao khoán.
Chính họ sẽ dùng mọi cách thức, biện pháp sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu dài. Họ cũng biết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi tiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm cho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội. Ở Việt Nam, HGĐ được phân bố từ nông thôn đến thành thị, khi quyền quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên lâu dài được giao cho HGĐ thì vai trò sử dụng lao động, tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường càng rõ rệt. HGĐ có toàn quyền tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất, có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa tạo thu nhập cho HGĐ vừa đóng góp vào GDP.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự phát triển của các HGĐ sẽ thu hút những người lao động chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ vào hoạt động gia đình kinh doanh. HGĐ là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhập với thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó HGĐ đã từng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường.