CHƯƠNG 1 Chương này giới thiệu đề tài nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại NHTM là một định chế tài chính trung gian, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Ở Pháp, quy định về ngân hàng cho rằng, NHTM là những doanh nghiệp mà ở đó chuyên cho việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng như chiết khấu, tín dụng. Ở Mỹ: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Tại Việt Nam, theo khoản 2, điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 quy định: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, ngân hàng được định nghĩa là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng. Hoạt động ngân hàng được xác định là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: (1) nhận tiền gửi; (2) cấp tín dụng; (3) cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Nguyễn Văn Ngọc (2006) cho rằng, theo nghĩa rộng, NHTM được hiểu là các định chế tài chính được phép nhận tiền gửi và thực hiện cho vay bằng nhiều phương thức và điều kiện khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm NHTM dùng để mô tả các ngân hàng được thể hiện các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, séc, tiền gửi tiết kiệm cầm cố, cho vay, chiết khấu, thấu chi,. Từ các lập luận trên, NHTM trong đề tài được hiểu là định chế tài chính trung gian với đặc trưng là cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi khách hàng, cho vay, và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó, NHTM còn cung cấp các dịch vụ khác như bao thanh toán, chiết khẩu, thấu chi, bảo lãnh,. nhằm tạo ra sự thỏa mãn cao nhất nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Chức nâng của ngân hàng thương mạì Theo nghiên cứu của Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2013), NHTM có 3 chức năng: chức năng thủ quỹ, trung gian thanh toán và trung gian tín dụng.
Chức năng thủ quỹ: Nghĩa làNHTM sẽ giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện các yêu cầu rút tiền hay chi tiêu tiền của khách hàng. Chức năng này của ngân hàng có tác dụng giúp cho các khách hàng gởi tiền không những đảm bảo an toàn cho đồng vốn của mình mà còn tác dụng sinh lợi cho đồng vốn tạm thời thừa, từ đó nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn. Đối với ngân hàng, thực hiện chức năng thủ quỹ là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán, đồng thời tạo nguồn vốn để ngân hàng thực hiện chức năng tín dụng. Đối với nền kinh tế, thông qua chức năng thủ quỹ của các NHTM, từ đó tập trung nguồn vốn tạm thời thừa trong nền kinh tế để phục vụ phát triển kinh tế.
Chức năng trung gian thanh toán: Chức năng này có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp khách hàng thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn. Từ đó đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chức năng trung gian thanh toán là tiền đề và cơ sở để các NHTM tạo ra tiền ghi sổ, vừa tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch vụ ngân hàng phát triển. Chức năng trung gian tín dụng: Ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Chức năng trung gian tín dụng có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế, giúp điều hòa vốn tiền tệ từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu làm giảm tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Đối với NHTM sẽ là cơ hội cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tạo ra được nguồn vốn kinh doanh và gia tăng được lợi nhuận ngân hàng.3 Vai trò của ngân hàng thương mại Theo nghiên cứu của Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2013), NHTM có các vai trò sau: Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư. Là một trung gian tín dụng, NHTM đã tích tụ và tập trung được một khối lượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi thông qua nghiệp vụ huy động vốn và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Từ nguồn tiền đó, tiến hành cấp phát tín dụng cho các thành phần kinh tế, những tổ chức và cá nhân cần vốn, để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của họ.
Tức là, ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là những người có tiền nhàn rỗi có thể cho vay và một bên là những người cần vay vốn. Thực hiện chức năng này tức là ngân hàng đã trở thành người khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làm cho nguồn tiền tệ luôn hoạt động và sinh lãi. Những hoạt động đó của NHTM đã thực sự tác động điều hoà cung cầu tiền tệ, biến những đồng tiền nhàn rỗi thành những đồng tiền hoạt động có ích, tập trung vốn vào việc tài trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo thêm việc làm cho người lao động và bằng những khoản tín dụng nhỏ thích hợp giúp người lao động có thêm điều kiện ổn định và cải thiện đời sống. Thứ hai, ngân hàng giúp cho các nhà kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trên cơ sở phải tuân thủ các điều kiện do ngân hàng đặt ra. Trong đó, các khoản tín dụng mà doanh nghiệp nhận được đều phải trả lãi và gốc theo thỏa thuận. Vì vậy, để đảm bảo an toàn tài sản cho ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp thì trước khi cho vay, ngân hàng cần phải thẩm định phương án sử dụng vốn vay của doanh nghiệp, thẩm định tính khả thi của dự án, thẩm định các yếu tố liên quan đến doanh nghiệp (uy tín, trình độ nhân viên, tài sản đảm bảo.) một cách chính xác, rõ ràng, chi tiết, qua đó cán bộ tín dụng giúp doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Sau khi cho doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp và thông qua hoạt động thanh toán hộ thì ngân hàng có thể giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn.
9 Thứ ba, ngân hàng khuyến khích tiết kiệm bằng cách nhận tiền gửi nhàn rỗi từ dân cư. Hoạt động này đều được trả lãi từ ngân hàng. Người gửi tiền có thể thực hiện theo bất kỳ hình thức và phương thức gửi tiền nào. Khi cần có thể rút tiền bất cứ lúc nào và được hưởng lãi.
Thông qua chính sách lãi suất, ngân hàng khuyến khích khách hàng thực hiện tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại để tăng nhu cầu tiêu dùng tương lai. Thứ bốn, thông qua hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng có thể điều tiết sự dịch chuyển của vốn đầu tư dẫn đến bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh té và phát triển vùng. Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng thực hiện hoạt động tài trợ vốn cho tất cả các tổ chức và cá nhân trong xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau. Với hệ thống các ngân hàng thương mại đều có mặt ở hầu hết các địa bàn trong phạm vi cả nước.
Ngân hàng sẽ cho vay đối với bất kỳ cá nhân hay doanh nghệp nào có nhu cầu về vốn mà đáp ứng đầy đủ các điều kiện khi yêu cầu thì sẽ thực hiện cho vay. Ngoài ra, khi có sự ưu tiên của nhà nước về việc phát triển ngành nghề hoặc vùng kinh tế nào đó, thì nhà nước đưa ra các chính sách riêng cho từng vùng, thông qua đó, các NHTM sẽ thực hiện cung ứng vốn cho những vùng mà nhà nước đã chỉ định để phát triển kinh tế. Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển, điều này dẫn đến việc chu chuyển vốn được thực hiện một cách dễ dàng. Đồng thời, với sự tác động của ngân hàng, vốn được dịch chuyển từ vùng thừa vốn sang vùng thiếu vốn đảm bảo cho sự phát triển đồng đều giữa các ngành, xoá dần sự khác biệt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định.
Thứ năm, hoạt động của ngân hàng góp phần chống lạm phát. Với đặc điểm của NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các hoạt động chủ yếu là huy dộng vốn, cho vay và thực hiện chức năng trung gian thanh toán. Lượng tiền trong lưu thông được ngân hàng kiểm soát. Thông qua các khoản mục của NHTM, ngân hàng trung ương sẽ xác định được lượng tiền mặt đang lưu thông trong nền kinh tế, từ đó để có các biện pháp kiểm soát nhằm đề phòng và hạn chế những ảnh hưởng xấu có thể xảy ra.
Trường hợp nếu xảy ra lạm phát thì bằng các nghiệp vụ của mình, ngân hàng trung ương sẽ tiến hành điều chỉnh tăng lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu, 10 tái cấp vốn, tham gia vào thị trường mở, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tác động tới NHTM, để qua đó làm thay đổi lượng tiền trong lưu thông. Thứ sáu, ngân hàng tài trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu - thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế ngày càng phát triển, cùng với xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá thì các mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Cùng hoà chung với xu thế đó, NHTM cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa nền kinh tế của quốc gia mình hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Bằng các hoạt động như tài trợ xuất nhập khẩu, thực hiện các hình thức thanh toán, bảo lãnh.