CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là hoạt động sử dụng vốn đem lại thu nhập chính cho NHTM.
Hoạt động cho vay được phân loại theo đối tượng khách hàng, bao gồm: cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay các tổ chức tín dụng, cho vay KHCN [18, tr. KHCN là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối tượng vay vốn đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu vay vốn mua nhà, xây sửa nhà, mua ô tô, các thiết bị gia dụng, thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh, mua sắm trang thiết bị và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng khác. Đặc điểm khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại KHCN thường có các đặc điểm sau: Thứ nhất, KHCN bao gồm nhiều tầng lớp có đặc điểm khác nhau về nghề nghiệp, uy tín, thu nhập, khả năng tài chính, độ tuổi, trình độ học vấn, mức độ hiểu biết về các dịch vụ Ngân hàng.
Đối với KHCN có địa vị xã hội, có thu nhập cao thường không muốn công khai tất cả các nguồn thu nhập cá nhân, tài sản tích lũy, tình trạng vay nợ nên họ có tâm lý ngại chuẩn bị hồ sơ vay vốn. Ngược lại với các KHCN có thu thập thấp hơn lại tìm cách bổ sung thêm các nguồn thu nhập không ổn định. Do đó thời gian và cách xử lý hồ sơ vay vốn tại NHTM thường phức tạp hơn so và rủi ro tín dụng đối với cho vay KHCN cũng cao hơn so với các hình thức cấp tín dụng khác [15,tr. 9 Thứ hai, KHCN thường mong muốn sự công bằng và ổn định khi sử dụng dịch vụ NHTM, mong muốn được bảo đảm quyền lợi, được đối xử công bằng khi giao dịch tại các kênh phân phối khác nhau của cùng một Ngân hàng và được tư vấn, giải đáp ngay các thắc mắc một cách đầy đủ và nhiệt tình.
Do đó, chính sách dành cho KHCN cần có sự thống nhất cao giữa các khách hàng khác nhau, giữa các kênh phân phối khác nhau, điều này đòi hỏi NHTM xây dựng chính sách thống nhất dành cho KHCN khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của NHTM, đồng thời có biện pháp kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh giữa các kênh phân phối. Bên cạnh đó, đặc điểm này đòi hỏi NHTM đa dạng hóa kênh giao tiếp với KHCN: nhân sự quản lý trực tiếp, tổng đài chăm sóc khách hàng tập trung, Ngân hàng trực tuyến, phần mềm tương tác giữa khách hàng với NHTM trên điện thoại thông minh. Thứ ba, KHCN thường lựa chọn sử dụng dịch vụ cho vay căn cứ đầu tiên và chủ yếu nhất là lãi suất cho vay, mức độ dễ dàng khi tiếp cận vốn vay, uy tín của Ngân hàng, qua giới thiệu của người thân đã sử dụng dịch vụ, thương hiệu, chất lượng dịch vụ và khuyến mại…Do đó, đòi hỏi NHTM không ngừng cải tiến sản phẩm dịch vụ để có mức giá tối ưu cho đối tượng KHCN, xây dựng quy trình cho vay, hướng dẫn nghiệp vụ cho vay rõ ràng, minh bạch. Mặt khác, đặc điểm này đỏi hỏi NHTM phải tăng cường chăm sóc khách hàng hiện hữu, mở rộng liên kết với các tổ chức thương mại, dịch vụ như: Công ty bảo hiểm, chủ thầu xây dựng, đại lý ô tô…nhằm quảng bá hình ảnh NHTM, đồng thời tăng số lượng kênh tiếp cận KHCN, khách hàng giới thiệu khách hàng [15, tr.
Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này bên cho vay chuyển giao quyền sử dụng tiền trong thời gian nhất định cho người đi vay. Khi đến hạn trả nợ bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi vay. Theo thông tư 39/2017/TT- NHNN ngày 30/12/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước 10 ngoài đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [15, tr.
Khái niệm trên được NHTM áp dụng làm tiền đề cơ bản cho các hoạt động cho vay. Nếu phân loại hoạt động cho vay theo đối tượng khách hàng thì hoạt động cho vay bao gồm cho vay doanh nghiệp, cho vay tổ chức tài chính và cho vay khách hàng cá nhân. Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cho vay KHCN nên ta xem xét khái niệm hoạt động nay. Cho vay KHCN là hình thức tài trợ của Ngân hàng cho các khách hàng cá nhân: “Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó Ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng”.
Đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Thứ nhất, quy mô của các khoản vay nhỏ, số lượng khoản vay lớn [20, tr.11] Hoạt động cho vay KHCN là một dịch vụ Ngân hàng bán lẻ hướng tới đối tượng sử dụng vốn vay là các cá nhân, hộ gia đình những người có mức thu nhập từ trung bình trở lên có nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất, hoặc tiêu dùng, mua sắm… được pháp luật cho phép. Do đó, quy mô khoản vay nhỏ, số lượng khoản vay lớn, nhu cầu vay vốn đa dạng nhưng không thường xuyên và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường, điều này dẫn đến chi phí thẩm định, chi phí quản lý, giám sát sau khi cho vay là tương đối cao, đổi lại Ngân hàng có thể phân tán rủi ro trong cho vay. Hơn nữa, đối với dịch vụ cho vay KHCN, số lượng khách hàng vay lớn và phân tán ở nhiều nơi khiến cho việc giao dịch không được thuận tiện, làm tăng chi phí thiết kế sản phẩm, chi phí tiếp cận khách hàng. dẫn đến việc Ngân hàng phải mở thêm các kênh phân phối, mở rộng đầu tư cho giao dịch điện tử.
Thứ hai, rủi ro cho vay KHCN thường cao hơn so với hoạt động cho vay khác. Cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi 11 khách hàng cố tình không chịu chi trả nợ, hoặc do sự biến động của tình hình sức khỏe, công việc… Ngoài ra, để có được khoản vay nhiều khách hàng dấu các thông tin về tình hình sức khỏe và công việc trong tương lai của mình nên các Ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản vay KHCN có tính rủi ro cao nên NHTM thường yêu cầu khách hàng phải có TSĐB khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho tài sản, hàng hóa… Thứ ba, lợi nhuận kỳ vọng từ hoạt động cho vay KHCN cao hơn so với hoạt động cho vay khác.
Xuất phát từ thực tế, cho vay KHCN thường chịu ảnh hưởng của nhiều rủi ro. Để bù đắp, NHTM thường áp dụng mức lãi suất cho vay, phí dịch vụ cho đối tượng KHCN cao hơn khách hàng là doanh nghiệp, dẫn đến lợi nhuận kỳ vọng từ hoạt động cho vay KHCN cũng cao hơn so với các hoạt động cho vay khác. Thứ tư, Mục đích cho vay đối với KHCN thường đa dạng Mục đích cho vay KHCN rất đa dạng, chủ yếu là đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn cho hoạt động SXKD, nhu cầu chi tiêu, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ những hàng hóa có chất lượng tốt để cải thiện đời sống. Đây là những nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu trong cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình, như: nhu cầu mua nhà ở, đất ở, sửa nhà, mua ô tô, ….
Thứ năm, Thời hạn khoản vay linh hoạt - Đối với khoản vay phục vụ SXKD: Khách hàng thường vay vốn ngắn hạn (tối đa 12 tháng) để bổ sung vốn lưu động cho hoạt động SXKD. Thường khách hàng sẽ được ngân hàng cho vay theo một trong hai hình thức là cho vay hạn mức và cho vay từng lần. Đối với cho vay hạn mức thì khách hàng sẽ được ngân hàng cấp tín dụng trong một thời gian duy trì hạn mức nhất định (thường là 12 tháng), căn cứ vào chu kỳ SXKD và luân chuyển vốn, nhu cầu vốn và từng đơn hàng cụ thể ngân hàng sẽ cho khách hàng vay đối với từng khoản vay cụ thể (từng giấy nhận nợ) trong một khoảng thời gian nhất định như sau: 3 tháng hoặc 6 tháng hoặc 9 tháng …. Đối với cho vay từng lần: Khi áp dụng phương thức này mỗi lần vay vốn 12 khách hàng và ngân hàng phải làm thủ tục vay vốn và ký kết hợp đồng tín dụng, phải đảm bảo doanh số cho vay không được vượt quá số tiền cho vay đã thỏa thuận trong từng hợp đồng tín dụng.
Trong thời hạn giải ngân, khách hàng được rút vốn phù hợp với tiến độ và yều cầu sử dụng vốn thực tế. Thời điểm cuối cùng ghi trên từng giấy nhận nợ đảm bảo không được vượt quá thời điểm trả nợ cuối cùng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. - Đối với cho vay tiêu dùng: Căn cứ chính vào mục đích vay vốn và nguồn trả nợ của khách hàng để NHTM tính toán thời gian cho vay như cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn, phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng. Thứ sáu, Đặc điểm về nguồn trả nợ Đối với khách hàng vay SXKD: Chủ yếu là nguồn thu từ hoạt động SXKD mang lại Đối với khách hàng vay tiêu dùng: Nguồn trả nợ chính là từ tiền lương, thu nhập hàng tháng của khách hàng hay những khoản thu nhập khác bất thường mà họ có.
Nguồn trả nợ có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và hiệu quả công việc của họ. Vì vậy, khi Ngân hàng cho vay, Ngân hàng phải xem xét, đánh giá đến hoàn cảnh sống, thu nhập, công việc của khách hàng. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.