Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thẻ và dịch vụ thẻ của Ngân hàng thương. mại Chương 2: Thực trạng dịch vu thẻ tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam Chương 3: G pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 CHUONGI NHUNG VAN DE CO BAN VE THE VA DICH VU THE CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Những vấn đề cơ bản về thẻ thanh toán 1. Sự hình thành và phát triễn của thẻ thanh toán * Sự hình thành và phát triển của thẻ thanh toán trên thề giới Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt rất đa dạng và phong phú, phần nào đã khẳng định được vai trỏ của mình trong các giao dịch kinh tế, nhưng theo sự phát triển của hoạt động thanh toán cũng cần phải có thêm một phương tiện thanh toán mới mà công dụng, tính ưu việ của nó bao trùm và hơn hẳn các phương.
tiên thanh toán đã có trước kia. Thẻ ngân hàng ra đời & phát triển dựa vào sự phát triển của khoa học kĩ thuật, dựa vào xu thé phát triển của thời đại và tận dụng ưu thế của một công cụ đi sau. Vì vậy có thể nói thẻ ra đời là để khắc phục những hạn chế vốn có của các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác, cũng là đẻ nâng cao hoạt động thanh toán của ngân hàng lên một tầm cao mới - tầm cao của kĩ thuật hiện đại. Thẻ xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới ở Mỹ vào năm 1914, khi đó tổng công ty xăng dầu Califomia (nay là công ty Mobile) cấp thẻ cho nhân viên & một số khách hàng của mình vì họ thấy cách sử dụng nảy rất tiện dụng trong việc thanh toán.
Nhưng thẻ lúc này mới chỉ là khuyến khích việc bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo một dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng. Nam 1949, Frank Me Namara do tình cờ quên đem theo tiền mặt khi đi ăn tối ở một nhà hàng nên đã nảy ra một phương thức thanh toán mới mà không cần dùng tiền mặt có thê sử dụng mọi nơi, mọi lúc. Năm 1950, Frank Me Namara cùng một doanh nhân người Mỹ khác, Palph Scheneider đã cùng sản xuất ra thẻ tín dụng đầu tiên với tên gọi Diners Club. Với lệ phí hàng năm là SUSD những người mang thẻ *Diners Club” có thể ghỉ nợ khi đi ăn ở 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phố.
Theo chin Diners Club, năm 1955 hàng loạt thẻ mới ra đời: Trip Charge, Golden Key, Gourment Club, Esquire Club, đến năm 1958 Carte Blanche & American Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Trong thời gian này, phần lớn các thẻ chỉ dành cho giới doanh nhân nhưng các ngân hàng đã thấy được rằng giới bình dân mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu trong tương lai. Ngân hàng Mỹ là nơi đầu tiên phát triển với loại thẻ Bank Americard và nó đã dấy lên làn sóng học. hỏi sự thành công này của các ngân hàng khác.
Đến năm 1966, Bank Americard mà ngày nay là thẻ Visa bắt đầu liên kết với các ngân hàng ở các tiểu ban khác. lưới của Bank Americard chăng mấy chốc gặp sự cạnh tranh khóc liệt của đối thủ 'Well Fargo liên kết với 77 ngân hàng, chủ nhân của Master Charge mà ngày nay là Master Card. Ngày nay, có thể nói 4 loại thẻ nhựa: Diners Club, American Express, Visa, Master Card được khách hàng ưa chuộng và sử dụng rộng rãi trên thể giới. Các loại thẻ này cũng du nhập vào Việt Nam vào đầu những năm 90.
Do ngày nay, thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty & ngân hàng. đã liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch, mua bán. $ Thẻ American Express (Amex) ra đời vào năm 1958, hiện nay đang là tổ chức thẻ du lịch & giải trí lớn nhất thế giới.
Tổng số thẻ phát hành lớn gấp 5 lần Diners Club và gấp 2 lan JCB. Nam 1990, tổng doanh thu chỉ khoảng 111,5 triệuUSD với khoảng 36,5 triệu thẻ lưu hành; nhưng đến năm 1993, tổng doanh thu tăng lên tới 124 tỉ USD với 35,4 triệu thẻ lưu hành và 3,6 triệu cơ sở chấp nhận thanh toán. Năm 1987, Amex cho ra đời loại thẻ tín dụng mới có khả năng cung cấp tín dụng tuần hoàn cho khách hàng để cạnh tranh với Visa và Master Card. $ Thẻ Visa, tiền thân là Bank Americard do Bank of America phát hành vào năm 1960.
Ngày nay, Visa là loại thẻ có quy mô phát triển lớn nhất toàn cầu. Đến cuối năm 1990, có khoảng 257 triệu thẻ đang lưu hành với doanh thu 354 tỉ USD. Đến cuối năm 1993, doanh thu của Visa đã tăng mạnh mẽ lên đến 542 tỉ USD cùng hệ thống máy rút tiền tự động khoảng 164.000 máy ATM ở 65 nước trên thế giới. ¢ JCB là loại thẻ được xuất phát từ Nhật Bản vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa, đã bắt đầu phát triển thành một cơ sở quốc tế vào năm 1981.
Mục tiêu chủ yếu là hướng vào thị trường du lịch và giải trí, đang là loại thẻ cạnh tranh với Amex. Đến năm 1990, doanh thu khoảng 16,5 tỉ USD với 17 triệu thẻ lưu hành. Đến năm 1992, doanh thu tăng lên đến 30,9 tỉ USD với 27,5 triệu thẻ lưu hành. & Master Card ra đời vào năm 1966 với tên gọi là Master Charge do Hiệp hội thể ngân hàng phát hành thông qua các thành viên trên thế giới.
Năm 1990, hệ thor \g máy ATM lớn nhất thế giới đã được sử dụng để phục vụ cho những người sử dụng thẻ Master. Cũng trong năm này, Master Card cũng phát hành hơn 178 triệu thẻ. Đến năm 1993, tổng doanh thu lên đến 320,6 tỉ USD và có khoảng 215,8 triệu thể lưu hành. Nhìn chung các tổ chức, hiệp hội thẻ điển hình trên thế giới như: Master, Visa, Amex.
đã được triển khai trên toàn thế giới. Đến nay, dịch vụ thẻ đã phát triển rộng khắp tại 134 quốc gia trên thế giới, số lượng thẻ phát hành lên đến 2.000 triệu thẻ, số đại lí chấp nhận thẻ là 21 triệu, số máy ATM và các điểm rút tiền mặt là 700.000, doanh số thanh toán thẻ hàng năm vào khoảng 3. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, thẻ thanh toán đã trở thành công cụ thanh toán phổ biển và chiếm vị trí độc tôn trong các công cụ thanh toán tại hầu hết các nước phát triển và đang phát triển. * Sự phát triển của thị trường thẻ Việt Nam trong thời gian qua.
Thị trường thẻ Việt Nam tuy mới phát triển ở giai đoạn đầu nhưng đã có những tăng trưởng đáng kẻ, đặc biệt là những năm gần đây. Cụ thể: -Về quy mô phát triển của thị trường thẻ: Nếu trong năm 2002 mới chỉ có 20.000 thẻ thì đến năm 2003 tăng lên khoảng 160.000 thẻ, đến hết năm 2004 tăng lên trên 650.000 thẻ, đến 31 tháng 12 năm 2007 là 8.3 triệu thẻ và hiện nay là khoảng 13. Đồng bộ với sự tăng lên của số lượng thẻ thì số lượng máy rút tiền tự động và các điểm chấp nhận thẻ cũng tăng lên đáng kể: vào năm 2002 cả nước mới chỉ có 200 máy ATM; năm 2003 tăng lên 320 máy, năm 2004 là hơn 600 máy, đến 31 tháng 12 năm 2007 nay số lượng máy ATM đã tăng lên khoảng 4300 máy và 23000. điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ(POS).
Số lượng máy ATM dén 31 thang 12 năm 2008 là 7051 máy. Hiện nay, Có 39 NHTM tham gia vào thị trường thẻ với số lượng máy ATM là 7700 máy và 25000 EDC/POS. Nhìn chung, thị trường thẻ tăng trưởng bình quân 300%/năm, các sản phẩm thẻ ngày cảng đa dạng và phong phú. Trong đó, thẻ ghỉ nợ tuy ra đời chậm hơn nhưng nhưng có tôc độ tăng trưởng khá cao.
* Sự tham gia của các ngân hàng vào thị trường thẻ Thị trường thẻ Việt Nam cảng ngày càng sôi động hơn do có sự xuất hiện của nhiều ngân hàng mới và sự tham gia của họ vào thị trường này. Đầu tiên chỉ có Vietcombank với một vài sản phẩm thẻ thì đến nay tất cả các ngân hàng đều có những sản phẩm thẻ của riêng mình. Ineombank với tư cách là ngân hàng đầu tiên chấp nhận thanh toán thẻ chip điện tử. Agribank cũng đã có chiến lược phát triển khá mạnh mẽ: đầu tư vào việc lắp đặt hàng loạt các máy ATM và điểm chấp nhận thẻ; lúc bắt đầu mới chỉ 54 máy vào.
năm 2005, đến năm 2007 là 600 máy; đến cuối năm 2008 số lượng máy đã lên đến 1200 máy; số lượng máy ATM hiện nay là 1702 máy. * Sự liên kết của các ngân hàng thương mại: Ngày nay, các ngân hàng thương mại đang đây mạnh, bắt tay hợp tác lẫn nhau để nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển dịch vụ thẻ và giảm thiểu chỉ phí trong đầu tư vào công nghệ, từ đó nhiều liên minh thẻ giữa các ngân hàng đồng loạt ra đời. Mạng banknet của công ty chuyển mạch tải chính quốc gia đã hoàn thành việc kết nối hệ thông máy của các ngân hàng: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng No& PTNT Việt Nam, Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng Sài Gòn Công Thương, NH ACB, NH Sacombank. Mang smartlink: liên kết giữa Ngân hàng TMCP Ngoại thương và các ngân hàng khác như Ngân Hàng Kỳ thương, NH TMCP Sài Gòn, NH TMCP Nam Việt.
Mạng liên kết giữa chỉ nhánh NH ANZ và NHTMCP Sacombank và NHTMCP Phương Nam. Mạng liên kết giữa ngân hàng TMCP Đông á và NHTMCP Sài Gòn Công Thương, Habubank và Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long. Sự liên kết như vậy là hoàn toàn có lợi, ngân hàng nhỏ có thể học tập kinh nhiệm và công nghệ của ngân hàng lớn, Ngân hàng lớn có hưởng lợi từ lượng khách hàng của Ngân hàng nhỏ. Hiện nay, ở Việt nam Có 4 mạng liên kết độc lập và các ngân hàng này cũng đang thoả thuận để tiến tới một liên minh thống nhất toàn bộ các ngân hàng trong nước, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoat động của thỉ trường thẻ tại Việt Nam.
ngày càng phát triển mạnh hơn nữa. Khái niệm và hình thức thẻ thanh toán 1. Khái niệm thẻ “Thẻ thanh toán (thẻ Ngân hàng) là phương tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến nhất trên thế giới ngày nay.